Liên kết web
Thăm dò

null Xuất nhập khẩu từ 18-22/07/2022

Tin trong nước
Thứ sáu, 22/07/2022, 15:46
Màu chữ Cỡ chữ
Xuất nhập khẩu từ 18-22/07/2022

Nhập khẩu phân bón từ Trung Quốc chiếm gần 41% kim ngạch

6 tháng đầu năm 2022 lượng phân bón nhập khẩu của cả nước đạt gần 1,78 triệu tấn, trị giá trên 846,71 triệu USD.

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 6/2022 cả nước nhập khẩu 231.461 tấn phân bón, tương đương 107,68 triệu USD, giá trung bình 465,2 USD/tấn, giảm 24,8% về lượng và giảm 28,6% về kim ngạch so với tháng 5/2022 và giảm 5% về giá. So với tháng 6/2021 thì giảm mạnh 47% về lượng, giảm 13,9% kim ngạch nhưng tăng mạnh 62,2% về giá.

Trong tháng 6/2022 nhập khẩu phân bón từ thị trường chủ đạo Trung Quốc sụt giảm sang 3 tháng tăng liên tiếp, giảm 24,4% về lượng, giảm 26% kim ngạch, và giảm 2% về giá so với tháng 5/2022, đạt 137.705 tấn, tương đương 58,22 triệu USD, giá 422,8 USD/tấn; So với tháng 6/2021 thì giảm 37% về lượng, nhưng tăng 2,8% kim ngạch và tăng mạnh 63,4% về giá. Ngược lại, nhập khẩu từ thị trường Nga tăng mạnh trở lại, tăng 130% về lượng và tăng 176,3% kim ngạch so với tháng 5/2022, đạt 10.228 tấn, tương đương 8,39 triệu USD; so với tháng 6/2021 giảm mạnh 53,2% về lượng, nhưng tăng 17% kim ngạch.

Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2022 lượng phân bón nhập khẩu của cả nước đạ1,78 triệu tấn, trị giá trên 846,71 triệu USD, giá trung bình đạt 475,8 USD/tấn, giảm 23% về khối lượng, nhưng tăng 56,3% về kim ngach và tăng 103,3% về giá so với 6 tháng đầu năm 2021. Trung Quốc vẫn đứng đầu về thị trường cung cấp phân bón cho Việt Nam, chiếm 47% trong tổng lượng và chiếm 40,7% trong tổng kim ngạch nhập khẩu phân bón của cả nước, đạt 838.158 tấn, tương đương 344,74 triệu USD, giá trung bình 411,3 USD/tấn, giảm 19,3% về lượng, nhưng tăng 22,7% về kim ngạch và tăng 52% về giá so với cùng kỳ năm 2021.

Tiếp đến thị trường Nga đứng thứ 2, chiếm 8,4% trong tổng lượng và chiếm 11,5% trong tổng kim ngạch, với 149.365 tấn, tương đương 97,28 triệu USD, giá trung bình 651,3 USD/tấn, giảm 23% về lượng, nhưng tăng 56,3% về kim ngạch và tăng 103,3% về giá so với 6 tháng đầu năm 2021.

Nhập khẩu phân bón từ thị trường Đông Nam Á đạt 149.031 tấn, tương đương 92,78 triệu USD, giảm mạnh 49,6% về lượng, giảm 0,9% kim ngạch so với cùng kỳ, chiếm 8,4% trong tổng lượng và chiếm 11% trong tổng kim ngạch nhập khẩu phân bón của cả nước.

Phân bón nhập khẩu từ thị trường FTA RCEP đạt 1,27 triệu tấn, tương đương 523,99 triệu USD, giảm 18,3% về lượng nhưng tăng 25,4% kim ngạch so với cùng kỳ, chiếm 71,2% trong tổng lượng và chiếm 61,9% trong tổng kim ngạch nhập khẩu phân bón của cả nước.

Nhập khẩu phân bón từ thị trường FTA CPTTP đạt 279.329 tấn, tương đương 93,85 triệu USD, giảm 6% về lượng nhưng tăng 55% kim ngạch so với cùng kỳ, chiếm 15,7% trong tổng lượng và chiếm 11% trong tổng kim ngạch nhập khẩu phân bón của cả nước.

Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2022 nhập khẩu phân bón từ đa số các thị trường mạnh về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2021.

Nhập khẩu phân bón 6 tháng đầu năm 2022

(Tính toán từ số liệu công bố ngày 11/7/2022 của TCHQ) 

Kim ngạch nhập khẩu đậu tương 6 tháng đầu năm 2022 tăng 15,5%

6 tháng đầu năm 2022 cả nước nhập khẩu 1,03 triệu tấn đậu tương, trị giá 704,19 triệu USD, giá trung bình 682,9 USD/tấn.

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu đậu tương trong tháng 6/2022 đạt 115.810 tấn, tương đương 85,5 triệu USD, giá trung bình 738,3 USD/tấn, giảm 39% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 5/2022; nhưng giá tăng nhẹ 0,9%; so với tháng 6/2021 thì giảm 12% về lượng, nhưng tăng 7,8% về kim ngạch và tăng 22,5% về giá.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2022 cả nước nhập khẩu 1,03 triệu tấn đậu tương, trị giá 704,19 triệu USD, giá trung bình 682,9 USD/tấn, giảm 5,4% về lượng nhưng tăng 15,5% kim ngạch và tăng 22% về giá so với cùng kỳ năm 2021.

Đậu tương nhập khẩu về Việt Nam từ thị trường Brazil nhiều nhất, trong tháng 6/2022 tiếp tục giảm gần 14% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 5/2022 và giá giảm 0,5%, đạt 75.005 tấn, tương đương 54,67 triệu USD, giá 728,9 USD/tấn; Tính chung, 6 tháng đầu năm nhập khẩu từ thị trường này đạt 606.356 tấn, tương đương 418,34 triệu USD, chiếm 59% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước.

Nhập khẩu đậu tương từ thị trường Mỹ - thị trường lớn thứ 2 trong tháng 6/2022 sụt giảm mạnh 65% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 5/2022 nhưng giá tăng nhẹ 2,2%, đạt 32.188 tấn, tương đương 23,87 triệu USD, giá trung bình 741,7 USD/tấn. Tính chung cả 6 tháng đầu năm, nhập khẩu từ thị trường này đạt 364.347 tấn, tương đương 242,83 triệu USD, giá 666,5 USD/tấn, chiếm 35% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, giảm mạnh 42,3% về lượng, giảm 30,4% về kim ngạch nhưng giá tăng 20,7% so với cùng kỳ năm trước.

Ngoài ra, nhập khẩu đậu tương từ thị trường Canada 6 tháng đầu năm đạt 52.946 tấn, tương đương 37,39 triệu USD, giá 706,2 USD/tấn, tăng 19,9% về lượng, tăng 37,6% về kim ngạch và giá tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu từ thị trường Campuchia đạt 6.148 tấn, tương đương 4,62 triệu USD, giá 752 USD/tấn, tăng mạnh cả về lượng, kim ngạch và giá, với mức tăng tương ứng 186,5%, 229% và 14,9%.

Nhập khẩu đậu tương 6 tháng đầu năm 2022

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 11/7/2022 của TCHQ)

Nhập khẩu ngô 6 tháng đầu năm 2022 đạt trên 1,61 tỷ USD

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu ngô các loại trong 6 tháng đầu năm 2022 đạt gần 4,55  triệu tấn, trị giá trên 1,61 tỷ USD, giá trung bình 353 USD/tấn, giảm 14,4% về lượng, nhưng tăng 12,7% kim ngạch và tăng 31,6% về giá so với 6 tháng năm 2021.

Trong đó, riêng tháng 6/2022 đạt trên 1 triệu tấn, tương đương 384,13 triệu USD, giá trung bình 383,8 USD/tấn, giảm 2,4% về lượng, giảm 0,4% kim ngạch nhưng giá tăng 2,1% so với tháng 5/2022; so với tháng 6/2021 thì tăng 16,4% về lượng, tăng 47,7% về kim ngạch và tăng 26,9% về giá.

Achentina là thị trường cung cấp ngô nhiều nhất cho Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2022, chiếm 61,4% trong tổng lượng và chiếm 62,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, đạt 2,79 triệu tấn, tương đương trên 1 tỷ USD, tăng mạnh cả về lượng, kim ngạch và giá so với cùng kỳ năm 2021, với mức tăng tương ứng 26,8%, 57,6% và 24,4%; riêng tháng 6/2022 đạt 863.930 tấn, tương đương 331,88 triệu USD, giá 384,2 USD/tấn, tăng 17,8% về lượng và tăng 23,6% kim ngạch so với tháng 5/2022, giá tăng 4,9%; so với tháng 6/2021 thì tăng mạnh 65% về lượng, tăng 105,4% về kim ngạch và giá tăng 24,4%.

Nhập khẩu ngô từ thị trường Ấn Độ 6 tháng đầu năm 2022 đạt 632.095 tấn, tương đương 206,45 triệu USD, giá 326,6 USD/tấn, chiếm 13,9% trong tổng lượng và chiếm 12,9% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, giảm 22,7% về lượng, giảm 8% về kim ngạch nhưng giá tăng 19% so với cùng kỳ năm trước.

Nhập khẩu ngô từ thị trường Brazil 6 tháng đầu năm 2022 đạt 346.117 tấn, tương đương 112,95 triệu USD, giá 326,3 USD/tấn, chiếm trên 7% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, giảm mạnh 74,6% về lượng, giảm 62,4% về kim ngạch nhưng giá tăng mạnh 48% so với 6 tháng năm 2021.

Nhập khẩu ngô 6 tháng đầu năm 2022

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 11/7/2022 của TCHQ)

Xuất khẩu tôm tháng 6 giảm tốc

Tháng 6 là tháng đầu tiên trong năm nay, XK tôm ghi nhận tăng trưởng âm, sau khi liên tục tăng trưởng dương 2 con số trong 5 tháng trước đó. Tháng 6, giá trị XK tôm giảm nhẹ 1% đạt gần 416 triệu USD. Lũy kế 6 tháng, XK tôm đạt 2,3 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm ngoái.

Nguồn cung tôm nguyên liệu trong nước hạn chế, nhu cầu tiêu thụ từ các thị trường Mỹ, EU chững được coi là một trong những nguyên nhân khiến kết quả XK tôm trong tháng 6 không được như mong đợi. Kim ngạch XK tôm tăng mạnh bất thường trong những tháng đầu năm nay còn được cho là do chi phí cước tàu tăng, góp phần làm tăng giá bán; hậu quả Covid-19 cuối năm 2021 khiến không ít DN tôm giảm chế biến và đẩy mạnh trả nợ đơn hàng vào đầu năm nay và lạm phát tăng cũng phần nào tác động làm tăng giá tiêu thụ tôm.

Trong  top 4 thị trường chính của tôm Việt Nam, XK sang Mỹ giảm, XK sang Trung Quốc không tăng trưởng mạnh như tháng trước đó trong khi XK sang Nhật và EU vẫn ổn định.

Mỹ: XK tôm sang Mỹ trong tháng 6 lần đầu tiên giảm kể từ đầu năm. XK tôm sang Mỹ ghi nhận tăng trưởng tốt từ đầu năm tới tháng 4, tháng 5 XK bắt đầu chững và giảm tương đối mạnh trong tháng 6. Tháng 6, XK tôm sang Mỹ đạt trên 93 triệu USD, giảm 36% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm nay, XK tôm sang thị trường này đạt gần 483 triệu USD, tăng 10%.

Lạm phát tăng cao ảnh hưởng tới hành vi chi tiêu của người dân, họ sẽ chi tiêu tiết kiệm hơn. Tôm cũng được coi là loại protein cao cấp nên nhu cầu tiêu thụ của người dân có phần chững.

Nhập khẩu tôm của Mỹ tăng mạnh trong những tháng đầu năm nên tồn kho còn nhiều. Những ách tắc về hậu cần như chi phí vận chuyển cao, vận chuyển chậm trễ và thiếu container kéo dài cũng dẫn đến tình trạng mua hàng dè dặt hơn. Tháng 5/2022, NK tôm của Mỹ đạt 75.484 tấn, trị giá gần 719 triệu USD, giảm 6% về lượng nhưng tăng 6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021. Lần đầu tiên trong 38 tháng, NK tôm của Mỹ giảm so với cùng kỳ năm trước đó.

Nhu cầu thị trường Mỹ được dự báo tăng nhẹ sau tháng 9 để phục vụ cho nhu cầu của Lễ hội cuối năm.

Nhật Bản: Nhu cầu nhập khẩu của thị trường này khá ổn định trong nửa đầu năm nay. Trong 6 tháng đầu năm, XK tôm sang Nhật Bản tăng trưởng dương liên tục dao động từ 6%-23%. Lũy kế 6 tháng, XK tôm sang thị trường này đạt gần 333 triệu USD, tăng 15% so với cùng kỳ.

XK tôm sang Nhật Bản dự kiến vẫn duy trì ổn định từ nay đến cuối năm. Chi phí cước tàu tới Nhật Bản không cao như tới Mỹ, EU; mức lạm phát tại Nhật Bản cũng thấp hơn so với mức lạm phát đang tăng cao tại Mỹ, EU. Đây được coi là những yếu tố hỗ trợ cho XK tôm Việt Nam sang Nhật Bản.

EU: Tương tự thị trường Nhật Bản, XK tôm sang EU khá ổn định trong 6 tháng đầu năm nay. XK tôm sang thị trường này trong tháng 6 vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định, tăng 37% đạt trên 74 triệu USD. Lũy kế 6 tháng, XK sang thị trường này đạt 378 triệu USD, tăng 48% so với cùng kỳ.

Nhu cầu tại EU hồi phục sau Covid, lạm phát thực phẩm cao, nên bất chấp những khó khăn như cước vận tải biển tăng vọt, chi phí container cao, các doanh nghiệp Việt tranh thủ đẩy mạnh xuất khẩu tôm sang thị trường này. Trong bối cảnh lạm phát giá, hiệp định thương mại tự do EVFTA càng là yếu tố thuận lợi trợ lực cho xuất khẩu tôm sang EU. 

Tốc độ tăng trưởng XK tôm Việt Nam sang EU trong các tháng của quý 2 năm nay thấp hơn so với các tháng quý 1. Xuất khẩu tôm Việt Nam sang EU trong những tháng tới sẽ tiếp tục phải chịu tác động từ lạm phát tại châu Âu, đồng EUR mất giá so với USD. Nền kinh tế các nước châu Âu cũng đang phải đối phó với khủng hoảng từ cuộc chiến Nga-Ukraine, chi phí xăng dầu, giá cả hàng hóa tăng cao. Nhu cầu nhập khẩu tôm của EU những tháng tiếp theo có thể chững và dự báo sẽ tăng mạnh trở lại vào những tháng cuối năm.

Trung Quốc: Sau khi tăng mạnh 3 con số 125%-140% từ tháng 3 đến tháng 5, XK tôm sang Trung Quốc trong tháng 6 tăng 32% đạt gần 58 triệu USD. Nửa đầu năm nay, XK tôm sang thị trường này đạt gần 333 triệu USD, tăng 84%. Thị trường này được đánh giá có nhu cầu tiêu thụ tốt từ nay đến cuối năm.

Gần đây, Trung Quốc đã mở cửa trở lại, nhiều quy định phòng dịch Covid-19 được nới lỏng. Trung Quốc mới đây đã xóa bỏ chính sách đình chỉ nhập khẩu thực phẩm đông lạnh có nhiễm virus Sars-COV-2 sau gần 2 năm thực thi. Đây cũng là tin tích cực đối với các nguồn cung cấp tôm cho Trung Quốc trong đó có Việt Nam.

Tình hình XK tôm 6 tháng cuối năm sẽ không khởi sắc như đầu năm. Doanh nghiệp tiếp tục phải đối mặt với khó khăn về nguồn nguyên liệu và những thách thức còn tồn tại từ nửa đầu năm. Tuy nhiên, thành quả của 6 tháng đầu năm được coi như là nền tảng để ngành tăng tốc, cộng với sự linh hoạt của người nuôi tôm, sách lược thị trường phù hợp của doanh nghiệp, kim ngạch XK tôm của nước ta trong năm nay dự kiến vẫn tăng trưởng ít nhất 10%, đạt khoảng 4,2 tỷ USD.

                          PTN - Tổng hợp

Số lượt xem: 30

Thống kê truy cập
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH BẠC LIÊU
Chịu trách nhiệm chính: Giám đốc Sở Công Thương
Địa chỉ: Đường Nguyễn Tất Thành, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: (0291) 3823848 - Fax: (0291) 3824890 
Email: sct@baclieu.gov.vn hoặc trungtamkhuyencongbl@gmail.com