Liên kết web
Thăm dò

null Tin thế giới từ 15 - 19/11/2021

Tin trong nước
Thứ sáu, 19/11/2021, 15:51
Màu chữ Cỡ chữ
Tin thế giới từ 15 - 19/11/2021

 

Mỹ: Nhu cầu ngành bán lẻ và dịch vụ thực phẩm sẽ tăng mạnh trong kỳ nghỉ lễ cuối năm

Theo công ty nghiên cứu NPD, triển vọng chi tiêu trong cả ngành bán lẻ và dịch vụ ăn uống tại Mỹ đều tăng mạnh trong mùa lễ hội  này và đến năm 2022, nhưng các cửa hàng tạp hóa có khả năng tăng mạnh hơn so với nhà hàng.

Theo nghiên cứu mới của NPD, gần 1/3 (29%) người Mỹ có kế hoạch chi tiêu nhiều hơn cho việc mua sắm phục vụ kỳ nghỉ lễ. Tổng chi tiêu cho kỳ nghỉ sẽ tăng 3% trong mùa mua sắm nghỉ lễ truyền thống vào tháng 11 và tháng 12, và tăng 5% khi kỳ nghỉ lễ  mở rộng  cả tháng 10 và đầu tháng 1, NPD cho biết.

Theo ”Dự báo Kinh tế Hoa Kỳ Deloitte Daniel Bachman,  ước tính tổng doanh số bán lẻ trong dịp lễ có thể tăng từ 7 - 9%, bao gồm tăng trưởng doanh số thương mại điện tử từ 11 - 15%.

“Chúng tôi dự đoán chi tiêu của người tiêu dùng sẽ tăng mạnh cho kỳ nghỉ lễ sắp tới. Khi tỷ lệ tiêm chủng tăng và người tiêu dùng thoải mái hơn khi ở bên ngoài gia đình, chúng ta có thể thấy chi tiêu cho các dịch vụ, bao gồm nhà hàng và du lịch tăng lên, trong khi chi tiêu cho hàng hóa sẽ tiếp tục ổn định"

34% người mua sắm cho biết họ sẽ chi tiêu nhiều hơn cho các cửa hàng tạp hóa trong dịp lễ vào năm 2021 , theo Field Agent. Walmart (65%) và Target (38%) là hai nhà bán lẻ hàng đầu nơi người tiêu dùng sẽ mua hầu hết các loại thực phẩm, đồ ăn nhẹ và đồ uống trong ngày lễ của họ, theo The Food Institute.

Người tiêu dùng dự định chi hơn 997 USD (858 EUR) cho mỗi món quà, đồ dùng trong dịp lễ và mua hàng không phải quà cho bản thân và gia đình trong năm nay - ngang bằng với mùa lễ trước, theo Liên đoàn Bán lẻ Quốc gia và Prosper Insights and Analytics .

NPD cho biết năm 2021 hàng tạp hóa triển vọng tốt, trong khi ngành nhà hàng vẫn đang gặp khó khăn, điều này có thể ảnh hưởng đến thương mại vào dịp lễ.

Chi tiêu của người tiêu dùng tại các nhà hàng trong quý II/2021 đã tăng 32% so với cùng kỳ năm 2020, theo NPD. Tuy nhiên, tình trạng thiếu lao động và lạm phát, cùng với những lo ngại về COVID-19 của người tiêu dùng, tiếp tục gây áp lực lên tăng trưởng ngành dịch vụ thực phẩm.

B. Hudson Riehle, phó chủ tịch cấp cao của Nhóm nghiên cứu và kiến ​​thức của Hiệp hội nhà hàng quốc gia, cho biết, năm 2021 là một năm “chuyển mình” của ngành vì đã bị thiệt hại hơn 300 tỷ USD (258 tỷ EUR) kể từ khi bắt đầu đại dịch.

Riehle cho biết số thiếu hụt lao động là 625.000 việc làm chỉ riêng trong lĩnh vực nhà hàng dịch vụ và 1,4 triệu việc làm mở trong lĩnh vực khách sạn. Các chủ nhà hàng đang phải đối mặt với thách thức là chi phí tăng,  một phần tăng đó đã được chuyển sang giá cho người tiêu dùng. Giá thực đơn đã tăng 3,9% vào năm 2021, so với mức tăng giá trung bình 2,2% tại các cửa hàng tạp hóa, theo Riehle.

17% chủ nhà hàng báo cáo rằng họ bị ảnh hưởng bởi giá thuỷ  hải sản “tăng mạnh” trong 3 tháng qua và 57% cho biết họ bị ảnh hưởng bởi giá thuỷ hải sản nói chung tăng, Jack Li, Giám đốc điều hành Datassential cho biết trong một hội thảo trên web Datassential Outlook 2022 gần đây.

38%  các chủ nhà hàng cho biết họ đang bị ảnh hưởng và chấp nhận việc tăng giá thuỷ hải sản, trong khi 43% đang chuyển chi phí cho khách hàng của họ bằng cách tăng giá thực đơn.

Riehle cho biết: Việc tăng giá có thể khiến nhiều người tiêu dùng tìm kiếm các giải pháp bữa ăn tiện lợi tại siêu thị hơn là đi ăn ngoài tiệm.

“Người tiêu dùng khá am hiểu về giá thực đơn và hiện nay có một khoảng cách khá lớn giữa lạm phát giá thực đơn và hàng tạp hóa. Trong khi dịch vụ thực phẩm “luôn sẵn sàng nắm bắt một phần lớn xu hướng, nhiều giải pháp bán lẻ khá sáng tạo,” Riehle nói.

Riehle cho biết: “Cuối cùng, người tiêu dùng tìm kiếm các giải pháp bữa ăn được chuẩn bị thuận tiện ngay từ khi ở nhà, cho dù có nguồn gốc từ hình thức nhà bếp ảo hay cửa hàng bán lẻ.

Tuy nhiên, các chủ nhà hàng biết rằng họ phải “cực kỳ nhạy cảm với chi tiêu của người tiêu dùng”, theo Riehle, đặc biệt là vào năm tới khi thu nhập thực tế của người Mỹ dự kiến sẽ giảm.

Dự báo xuất khẩu thuỷ sản sang Trung Quốc năm 2021 đạt 1 tỷ USD

Chiếm 17 – 18% XK thuỷ sản Việt Nam trong 2 năm qua với trên 1,4 tỷ USD, Trung Quốc nằm trong top 3 thị trường NK của thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, do XK sang thị trường này sụt giảm liên tục từ đầu năm đến nay, nên 3 quý đầu năm 2021, XK sang Trung Quốc chỉ còn chiếm 11% tổng XK thủy sản của Việt Nam.

Từ tháng 4/2021, XK thủy sản Việt Nam sang thị trường Trung Quốc liên tục giảm 11-51% bởi việc kiểm soát chặt thủy sản đông lạnh NK tại các cảng chính của nước này, gây tắc nghẽn và tốn kém cho các nhà NK Trung Quốc, ảnh hưởng đến lợi nhuận và nhu cầu của nhà NK và cả các công ty XK Việt Nam. Cùng với sự bùng phát Covid ở Việt Nam từ tháng giữa tháng 7, XK sang Trung Quốc càng giảm sâu trong quý III: giảm 36% trong tháng 8 và 51% trong tháng 9.

XK thủy sản sang Trung Quốc liên tục giảm, do chính sách kiểm soát quá chặt chẽ virus corona trên thủy sản NK khiến thông quan tại các cảng ở Trung Quốc bị ách tắc. Từ quý III/2020, Trung Quốc đã nhiều lần thông báo phát hiện virus corona trên bao bì thủy sản đông lạnh NK từ một số nước như Ấn Độ, Ecuador, Nga, Achentina… do vậy Hải quan nước này tuyên bố sẽ tăng cường thanh tra và kiểm tra thủy sản đông lạnh NK để ngăn chặn sự bùng phát của virus corona.

Hàng trăm công ty XK từ Ấn Độ, Ecuador, Nga, Indonesia đã bị đình chỉ XK sang Trung Quốc 1-5 tuần vì lý do phát hiện covid. Riêng Ấn Độ có tới trên 70 công ty bị tạm ngừng NK sang Trung Quốc.

Ngoài ra, ngành sản xuất và XK thủy sản Trung Quốc bị ảnh hưởng giảm bởi dịch Covid nên dường như nước này cũng muốn bảo hộ cho các sản phẩm thủy sản nội địa, nên tìm cách hạn chế NK. Trung Quốc cũng đã và đang tăng cường truyền thông mạnh người dân sử dụng sản phẩm của Trung quốc.

Tính đến cuối tháng 9/2021, XK thủy sản Việt Nam sang Trung Quốc giảm 20,5% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 768 triệu USD. Trong đó, 2 sản phẩm chủ lực là tôm và cá tra chiếm lần lượt 39% và 36% tổng giá trị XK thủy sản sang thị trường này, đạt 298 triệu USD và 279 triệu USD, giảm 23% và 20% so với cùng kỳ năm 2020. XK tôm sang Trung Quốc giảm 23% chủ yếu vì xuất tôm sú giảm 12% và xuất tôm hùm giảm sâu 82%.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng là thị trường NK cua ghẹ quan trọng của Việt Nam, chủ yếu NK cua sống. Đến hết tháng 9, XK cua ghẹ sang thị trường này đạt 36 triệu USD, giảm 21% so với cùng kỳ năm ngoái.

Năm 2020, NK thủy sản của Trung Quốc giảm 20% đạt 12,7 tỷ USD. Trong nửa cuối năm 2020, nhập khẩu thủy sản của Trung Quốc giảm 31% xuống còn 5,95 tỷ USD, sau khi giảm 6% trong nửa đầu năm đạt 6,7 tỷ USD. Tiêu thụ thủy sản bình quân của Trung Quốc là 26,4 kg vào năm 2020, giảm so với 32,8kg năm 2019. Năm 2021, tình hình NK thủy sản của Trung Quốc vẫn trì trệ. 

Mới đây, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) cho biết sẽ tăng cường kiểm tra đối với thủy sản chuỗi lạnh. Cho đến ngày 29/10, GACC đã kiểm tra hơn 400 nhà sản xuất thực phẩm chuỗi lạnh quốc tế và đình chỉ 154 công ty nhập khẩu do lây nhiễm từ các nhân viên. GACC đã lấy khoảng 3,2 triệu mẫu thực phẩm nhập khẩu, trong đó có 499 mẫu dương tính với COVID. GACC cũng đã đình chỉ nhập khẩu đối với 221 công ty quốc tế từ 1-4 tuần sau khi phát hiện các bao bì sản phẩm của họ dương tính với COVID.

Trước tình hình kiểm soát khắt khe của Hải quan Trung Quốc, dự báo XK thủy sản Việt Nam sang Trung Quốc tiếp tục giảm sâu 3 tháng cuối năm, đạt 242 triệu USD trong quý IV, giảm 40%. Theo đó, dự báo XK thủy sản sang thị trường này cả năm 2021 đạt khoảng 1 tỷ USD, giảm 26%.

Xuất khẩu gạo Ấn Độ chiếm gần một nửa tổng xuất khẩu gạo thế giới

Xuất khẩu gạo của Ấn Độ có thể đạt 22 triệu tấn trong năm 2021 (ước tính chiếm khoảng 45% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn cầu), nhiều hơn tổng lượng xuất khẩu của ba nhà xuất khẩu lớn nhất là Thái Lan, Việt NamPakistan. Con số này có thế đạt được nếu Ấn Độ có thể cải thiện năng lực xếp dỡ tại cảng, cho phép vận chuyển tới các thị trường lớn ở châu Phi và châu Á. Năm 2021, bên cạnh những thị trường xuất khẩu gạo truyền thống, Ấn Độ còn mở rộng xuất khẩu gạo sang các thị trường Trung Quốc, Việt Nam và Bangladesh.

Xuất khẩu gạo của Ấn Độ trong năm 2020 đã tăng 49% so với năm 2019 lên mức kỷ lục 14,7 triệu tấn, khi các lô hàng gạo non-basmati tăng vọt 77% lên mức kỷ lục 9,7 triệu tấn. Theo số liệu từ Bộ Thương mại, Ấn Độ đã xuất khẩu 12,84 triệu tấn gạo trong 7 tháng đầu năm 2021, tăng 65% so với một năm trước.

Phó chủ tịch phụ trách kinh doanh gạo của tập đoàn Olam Ấn Độ, ông Nitin Gupta đánh giá, năm 2021, các lô hàng gạo non-basmati có thể tăng gần gấp đôi so với năm 2020 lên 18 triệu tấn, trong khi xuất khẩu gạo basmati cao cấp giữ ổn định ở mức 4 triệu tấn. Xuất khẩu gạo non-basmati của Ấn Độ chủ yếu đến các nước châu Phi và châu Á, trong khi gạo basmati cao cấp đến Trung Đông, Hoa Kỳ và Anh.

Gạo của Ấn Độ rẻ hơn so với các nguồn cung từ Thái Lan và Việt Nam kể từ tháng 3/2020, bên cạnh đó nhu cầu tiêu thụ gạo toàn cầu đang tăng kỷ lục. Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ dự báo xuất khẩu gạo toàn cầu là 48,5 triệu tấn trong niên vụ 2021-22.

Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng hạn chế tại cảng Kakinada Anchorage, cảng gạo chính của Ấn Độ, đã dẫn đến tình trạng tắc nghẽn và chậm trễ kéo dài trong năm 2020, khiến một số người mua phải chuyển đổi nhà cung cấp.

Việc tắc nghẽn tại cảng Kakinada Anchorage, đã dẫn đến thời gian chờ đợi lên đến 4 tuần so với thời gian chờ thông thường khoảng một tuần, làm tăng chi phí cho các chủ hàng và hạn chế xuất khẩu. Nhà xuất khẩu gạo Brahmananda Gudimetla cho biết mặc dù doanh nghiệp đã giảm giá hơn 100 USD/tấn so với các nhà xuất khẩu khác, nhưng phần lớn mức chiết khấu này đã phải bù đắp cho chi phí vận tải liên quan tới sự chậm trễ tại cảng.

Để giảm bớt tình trạng tắc nghẽn tại cảng Kakinada, từ tháng 2/2021, bang Andhra Pradesh đã cho phép sử dụng một cảng nước sâu liền kề tại Kakinada cho các chuyến hàng gạo, giúp giảm bớt thời gian chờ tàu.

Ông M Muralidhar, Giám đốc điều hành của Kakinada Ltd., cho biết: Mặc dù có thêm cảng vận tải liền kề nhưng tỷ lệ bốc xếp của Kakinada vẫn thua xa các cảng Đông Nam Á do thiếu của cơ sở hạ tầng xử lý gạo chuyên dụng. Fahim Shamsi, chủ một tàu chở gạo cho biết: "Ở Kakinada, mất gần một tháng để xếp khoảng 33.000 tấn gạo, trong khi ở Thái Lan chỉ mất 11 ngày". Bên cạnh đó, căng thẳng tại cảng Kakinda đang có dấu hiệu gia tăng sau khi chi phí vận chuyển gạo bằng container tăng cao, buộc các chủ hàng gạo phải chuyển từ container sang tàu rời. BV Krishna Rao, chủ tịch Hiệp hội các nhà xuất khẩu gạo Ấn Độ đánh giá, cảng Kakinada có thể xuất khẩu thêm 2 triệu tấn gạo nếu cơ sở hạ tầng được nâng cấp và quy trình được cơ giới hóa. 

                          PTN - Tổng hợp

Số lượt xem: 14

Thống kê truy cập
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH BẠC LIÊU
Chịu trách nhiệm chính: Giám đốc Sở Công Thương
Địa chỉ: Đường Nguyễn Tất Thành, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: (0291) 3823848 - Fax: (0291) 3824890 
Email: sct@baclieu.gov.vn hoặc trungtamkhuyencongbl@gmail.com