Liên kết web
Thăm dò

null Sản xuất kinh doanh từ 31/05-04/06/2021

Tin trong nước
Thứ sáu, 04/06/2021, 09:52
Màu chữ Cỡ chữ
Sản xuất kinh doanh từ 31/05-04/06/2021

6 xu hướng tiêu dùng chi phối ngành chế biến thủy sản năm 2021

Dự đoán xu hướng của người tiêu dùng không phải là việc dễ dàng vào bất cứ thời điểm nào, đặc biệt sau một năm hạn chế và biến động do COVID-19, việc có được bức tranh rõ ràng về triển vọng của ngành thủy sản năm 2021 và những năm sau còn khó khăn hơn.

Bài viết này đưa ra một số dự đoán về đại dịch toàn cầu và nhận thức gia tăng về môi trường đang tác động đến thói quen của người tiêu dùng và ngành thủy sản như thế nào:

1. Người Châu Âu ăn nhiều cá hơn

COVID-19 chắc chắn đã làm suy yếu ngành cá tươi, đặc biệt là ở cấp độ hậu cần. Nhưng dù đại dịch đang tác động đến chuỗi cung ứng, thì tiêu thụ cá vẫn có xu hướng tăng nữa.

Tại các nước thành viên EU, lượng mua hải sản tăng đều và theo phân tích mới nhất của Hiệp hội chế biến và kinh doanh cá EU, AIPCE-CEP, nhu cầu đối với cá thịt trắng như cá tuyết cod và cá tuyết chấm đen (haddock) tiếp tục tăng.

2. Cá nổi nhỏ được quan tâm hơn:

Cá nổi nhỏ, như cá thu, cá trích, cá cơm và cá trích cơm, có trở nên phổ biến ở cả các nước đã và đang phát triển.

Xu hướng này góp phần làm giảm thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra,  sẽ tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với cách chúng ta nuôi trồng sản xuất thực phẩm. Nếu được quản lý đúng cách, nguồn cung cá nổi nhỏ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm lượng khí thải carbon của nhân loại.

Dự đoán người dân Bắc Âu sẽ quay lại thói quen tiêu thụ trước kia nên mức tiêu thụ cá trích, cá thu và cá mòi sẽ tăng nhiều hơn. Đó có thể là tin vui cho các nhà máy chế biến cá ở châu Âu, những nhà máy đang ngày càng sử dụng nhiều máy móc công nghệ cao như máy đánh cá tự động để chế biến số lượng lớn cá nhỏ với số lượng công nhân hạn chế.

3. Thời kỳ hoàng kim của của dịch vụ giao hàng hải sản:

Năm 2020, việc kinh doanh nhà hàng rơi vào thời kỳ cực kỳ khó khăn vào. Để trụ vững, nhiều cơ sở đã thử nghiệm hình thức giao đồ ăn mang đi. Việc xoay hướng sang cung cấp thực phẩm cao cấp mang đi đã rất thành công, sau đó nhiều cơ sở muốn duy trì cung cấp các dịch vụ này, dù có đại dịch hay không.

Điều này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến ngành chế biến cá trong tương lai? Khi đại dịch giảm bớt và thực khách quay trở lại nhà hàng yêu thích của họ, chắc chắn các siêu thị và dịch vụ giao hàng online cố gắng kiếm tiền bằng các bữa ăn tươi ngon, cao cấp, được chuẩn bị trước.

4. Xu hướng ăn "từ vây đến đuôi":

“Ăn từ vây tới đuôi” là phong trào khuyến khích thực khách ăn những phần thịt cá và nội tạng vốn trước kia không được ưa chuộng, đang dần dần có sức hút trong 15 năm qua. Nhưng bây giờ, đã đến lúc đưa khái niệm này đi xa hơn, với dịch vụ ăn uống “từ vây đến đuôi”.

Xu hướng này có thể dễ bị loại bỏ như một xu hướng nhất thời, nhưng với những lo ngại về tính bền vững đang gia tăng và con số đáng kinh ngạc là 43% mỗi con cá bị bỏ đi, thì cách thức ăn tận dụng “từ vây tới đuôi” rồi sẽ làm thay đổi thói quen ăn uống của chúng ta.

Theo đó, cá trích, cá cơm và các loại cá nổi nhỏ khác là những loài áp dụng khởi điểm tốt nhất, vì chúng hầu như đã được ăn nguyên con.

Mặc dù chúng ta chưa thể thấy các nhà sản xuất cá kinh doanh máy đánh cặn và máy khử cặn của họ, nhưng cuối cùng chúng ta có thể thấy người tiêu dùng đang chấp nhận lựa chọn thêm như gan cá tuyết áp chảo và bao tử cá nhồi.

5. Cá đóng hộp và đông lạnh tiếp tục phổ biến

Khi bắt đầu đại dịch COVID-19, các kệ hàng siêu thị trên khắp thế giới bị mua sạch, do người mua tích trữ một lượng lớn thực phẩm đóng hộp và các mặt hàng bảo quản khác.

Sau một năm hạn chế và cách ly, công chúng không còn lo lắng về nguồn cung cấp thực phẩm của họ như hồi tháng 3/2020, nhưng doanh số bán thực phẩm đóng hộp và đông lạnh vẫn tiếp tục tăng.

6. Truy xuất nguồn gốc và trữ lượng cá bền vững sẽ trở nên quan trọng

Bên cạnh việc lựa chọn các loài cá nhỏ hơn, khi lựa chọn mua hàng, người tiêu dùng sẽ ngày càng quan tâm đến truy xuất nguồn gốc và tác động môi trường của sản phẩm thủy sản họ mua.

Chúng ta có khả năng thấy nhiều người mua cá hơn những năm trước, nhưng kích thước khẩu phần sẽ nhỏ hơn, và người tiêu dùng phải trả giá cao cho sản phẩm theo độ tươi, chất lượng và thông tin xác thực về nguồn gốc.

Điều này đưa các nhà chế biến cá châu Âu đi đâu?

Nhìn chung, triển vọng cho ngành công nghiệp cá của Châu Âu là lạc quan, nếu nó có thể bắt kịp các xu hướng tiêu dùng mới nhất.

Những tiến bộ vượt bậc trong công nghệ chế biến vài thập kỷ qua đã giúp tăng năng suất  chế biến cá nhỏ mỗi giờ, với số lượng công nhân thấp nhất. Đó là tin tuyệt vời đối với người tiêu dùng  toàn cầu, đang ngày càng quan tâm đến nguồn protein từ khai thác thủy sản bền vững

Sản lượng bột cá toàn cầu dự báo sẽ ổn định trong năm nay và năm tới

Sản lượng bột cá toàn cầu trong năm marketing 2021/22 dự báo sẽ vững ở mức gần 5 triệu tấn, trong đó sản lượng của Peru – nước sản xuất bột cá lớn nhất thế giới – không thay đổi so với năm trước.

Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ, Peru sẽ sản xuất 1,1 triệu tấn bột cá trong năm 2021/22, tương tự như ở năm trước. Những hạn chế để ngăn sự lây lan của Covid-19 đã cản trở hoạt động đánh bắt và chế biến cá ở Peru. Xuất khẩu bột cá của nước này dự báo cũng sẽ không thay đổi.

Sản xuất và xuất khẩu bột cá của Iceland dự báo sẽ tăng nhẹ trong năm 2021/22, trong khi dự trữ được dự báo không đổi.

Về nhu cầu, nhập khẩu của Trung Quốc được dự báo không đổi ở mức 1,5 triệu tấn nhờ nguồn cung dồi dào các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi thay thế. Trong khi đó, nhập khẩu của EU sẽ tăng 10.000 tấn do tiêu thụ ngày càng tăng, dự báo tăng 2% lên 460.000 tấn; nhập khẩu của Na Uy dự báo tăng 3% lên 150.000 tấn, và nhập khẩu của Đài Loan tăng 4% lên 145.000 tấn.

Nhập khẩu bột cá thế giới (nguồn: USDA)

Trung Quốc giảm 19% lượng tôm nhập khẩu trong tháng 4/2021

Theo số liệu mới nhất của hải quan Trung Quốc, trong tháng 4/2021, Trung Quốc đã nhập khẩu 43.000 tấn tôm nước ấm, giảm 19% so với cùng kỳ năm ngoái.

Giá trị nhập khẩu đạt 240 triệu USD, giảm 21% do giá nhập khẩu trung bình giảm 0,11 USD/kg so với tháng 4 năm ngoái, xuống còn 5,53 USD/kg.

Trong 4 tháng đầu năm 2021, khối lượng nhập khẩu tôm của Trung Quốc là 178.000 tấn, giảm 15% so với cùng kỳ năm trước.

Tháng 4/2021, nhập khẩu tôm Ecuador vào Trung Quốc giảm 30% so với cùng kỳ năm ngoái xuống 26.100 tấn, thấp hơn so với nhập khẩu của tháng 3/2021 là 29.000 tấn.

Nhập khẩu từ Ấn Độ tăng 32% so với cùng kỳ năm ngoái lên 8.500 tấn, do đợt phong tỏa năm ngoái ở Ấn Độ vào tháng 4 đã làm gián đoạn xuất hàng.

Nhập khẩu từ các nhà cung cấp chính khác là Việt Nam và Thái Lan lần lượt đạt 1.400 tấn và 1.500 tấn, giảm 55% và 16% so với cùng kỳ năm ngoái.

Nhập khẩu của Trung Quốc giảm đã khiến giá tôm Ecuador lao dốc do sản lượng ở quốc gia Nam Mỹ này vẫn ở mức cao.

Vào tháng 4, giá trung bình NK tôm Ecuador vào Trung Quốc chỉ là 4,96 USD/kg, trong khi tôm Ấn Độ, chủ yếu tôm vỏ bỏ đầu, có giá nhập khẩu trung bình 6,17 USD/kg trong tháng 4/2021.

Tôm có giá thấp nhất là từ Venezuela và Peru, cung cấp 480 tấn và 1.111 tấn, giá trung bình lần lượt là 4,09 USD/kg và 4,77 USD/kg.

Tôm Thái Lan là một trong những loại tôm đắt nhất trung bình là 9,06 USD/kg, tôm Việt Nam giá trung bình 7,62 USD/kg.

Gạo ST25 của Việt Nam có khả năng đánh bạt gạo Thái lan tại Ba Lan

Ba Lan có nhu cầu lớn những mặt hàng thuộc thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam không chỉ gạo mà còn cả các mặt hàng thuỷ sản và nông sản khác như: cá tra, cá basa, tôm, sản phẩm xoài, dứa, chanh leo, cà phê, hạt điều…

Theo ông Nguyễn Thành Hải, Tham tán, Thương vụ Việt Nam tại Ba Lan, Ba Lan hiện có nhu cầu lớn những mặt hàng thuộc thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam như gạo, cá tra, cá basa, tôm, sản phẩm xoài, dứa, chanh leo, cà phê, hạt điều…

Trong đó, mặt hàng gạo, nhất là gạo ST24 và ST25 có khả năng cạnh tranh được với gạo Thái Lan về chất lượng và giá. Tính toán cho thấy, hiện giá CIF (giá đã bao gồm tiền hàng + bảo hiểm + cước phí tàu) các mặt hàng gạo này của Việt Nam tới các nước châu Âu đang thấp hơn 2-3% so với gạo Thái Lan, kể cả tính thuế nhập khẩu.

Trong khi đó, gạo Việt Nam vào EU mới chỉ chiếm 6%, nhưng gạo Thái Lan và Campuchia đạt tỷ trọng cao hơn rất nhiều. “Như vậy, hạn ngạch 80.000 tấn vào EU của Việt Nam theo cam kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) là một khối lượng rất nhỏ so với nhu cầu nhập khẩu bình quân là 2,3 triệu tấn/năm của các nước EU và Vương quốc Anh”, ông Hải thông tin.

Với sản phẩm hạt điều chế biến sâu cũng được nhận định sẽ là mặt hàng có thể phát triển mạnh mẽ về thị trường tại Ba Lan.

Cùng với đó, các loại nước cô đặc của xoài, dứa, chanh leo cũng đang có nhu cầu lớn tại thị trường Ba Lan, trong khi doanh nghiệp Ba Lan không đủ công suất cung cấp cho thị trường của họ.

"Trong khi Việt Nam có năng lực cung ứng hàng nông, thủy sản thì thị trường Ba Lan lại có nhu cầu về những mặt hàng này. Đây là cơ hội cho sản phẩm nông sản của Việt Nam hiện diện rộng lớn hơn tại thị trường này", ông Nguyễn Hùng, Đại sứ Việt Nam tại Cộng hòa Ba Lan, nhấn mạnh.

Trên thực tế, hàng nông sản, thực phẩm Việt Nam hiện đã có mặt tại 185 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó nhiều thị trường có chất lượng cao như Mỹ, Nhật Bản, Liên minh Châu Âu (EU), Hàn Quốc… và ngày càng khẳng định được vị thế hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Không chỉ có nhu cầu thị trường lớn, ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Công Thương đánh giá: các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều thuận lợi trong việc xuất khẩu sang Ba Lan.

Hiệp định EVFTA mà Ba Lan là một thành viên, sẽ mang lại nhiều tác động tích cực đến nhiều mặt của nền kinh tế Việt Nam. Qua đó, tác động đến tăng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường EU nói chung và Ba Lan nói riêng.

Cụ thể, theo cam kết trong EVFTA, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU.

Tiếp đó sau 7 năm, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại của Việt Nam, EU dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%.

“Như vậy, cho đến nay, cam kết của EU trong EVFTA là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho Việt Nam trong các hiệp định FTA đã được ký kết. Do chênh lệch thuế nhập khẩu từ 10-15% so với hàng hóa cùng chủng loại từ các nước đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc và một số nước Châu Á khác như Campuchia, Myanmar, Bangladesh… nên hàng Việt Nam vào EU nói chung và Ba Lan nói riêng chắc chắn có sức cạnh tranh đáng kể”, ông Phú phân tích.

                                    PTN - Tổng hợp

Số lượt xem: 17

Thống kê truy cập
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH BẠC LIÊU
Chịu trách nhiệm chính: Giám đốc Sở Công Thương
Địa chỉ: Đường Nguyễn Tất Thành, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: (0291) 3823848 - Fax: (0291) 3824890 
Email: sct@baclieu.gov.vn hoặc trungtamkhuyencongbl@gmail.com