Liên kết web
Thăm dò

null Sản xuất kinh doanh từ 18-22/07/2022

Tin trong nước
Thứ sáu, 22/07/2022, 15:47
Màu chữ Cỡ chữ
Sản xuất kinh doanh từ 18-22/07/2022

Thị trường nhập khẩu lúa mì 6 tháng năm 2022

6 tháng năm 2022 lượng lúa mì nhập khẩu của cả nước đạt 2,25 triệu tấn, tương đương trên 834,3 triệu USD, giảm 2% về khối lượng, nhưng tăng 30,7% về kim ngạch. 

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 6/2022 cả nước nhập khẩu 307.350 tấn lúa mì, tương đương 114,45 triệu USD, giá trung bình 372,4 USD/tấn, giảm 21% về lượng, giảm 22,4% về kim ngạch và giảm 1,6% về giá so với tháng 5/2022. So với tháng 6/2021 cũng giảm 26,3% về lượng, giảm 8,4% kim ngạch nhưng tăng 24,2% về giá.

Tính chung cả 6 tháng năm 2022 lượng lúa mì nhập khẩu của cả nước đạt 2,25 triệu tấn, tương đương trên 834,3 triệu USD, giảm 2% về khối lượng, nhưng tăng 30,7% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2021, giá trung bình đạt 371,2 USD/tấn, tăng 33,5%.

Trong tháng 6/2022 nhập khẩu lúa mì từ thị trường chủ đạo Australia giảm gần 8% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 5/2022, đạt 269.623 tấn, tương đương 100,8 triệu USD; so với tháng 6/2021 cũng giảm 26,8% về lượng, giảm 8,2% kim ngạch. Tính chung cả 6 tháng, nhập khẩu lúa mì từ thị trường Australia, chiếm trên 67% trong tổng lượng và tổng kim ngạch lúa mì nhập khẩu của cả nước, đạt 1,51 triệu tấn, tương đương 562,82 triệu USD, giá trung bình 373,4 USD/tấn, giảm 12,3% về lượng, nhưng tăng 16,7% về kim ngạch và tăng 33% về giá so với cùng kỳ năm 2021.

Tiếp sau đó là thị trường Brazil chiếm trên 14% trong tổng lượng và tổng kim ngạch, đạt 322.760 tấn, tương đương 112,55 triệu USD, giá trung bình 348,7 USD/tấn, tăng mạnh 40,6% về lượng, tăng 104,6% về kim ngạch và tăng 45,5% về giá so với cùng kỳ năm 2021.

Thị trường Mỹ đứng thứ 3 đạt 106.673 tấn, tương đương 47,92 triệu USD, giá 449 USD/tấn, giảm 29,5% về lượng nhưng tăng 6,4% kim ngạch và tăng 50,9% về giá so với cùng kỳ, chiếm 4,8% trong tổng lượng và chiếm 5,7% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước.

Nhập khẩu lúa mì 6 tháng năm 2022

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 11/7/2022 của TCHQ)

Xuất khẩu gạo sang các thị trường 6 tháng đầu năm 2022 tăng cả lượng, kim ngạch

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, 6 tháng đầu năm 2022 cả nước xuất khẩu trên 3,49  triệu tấn gạo, tương đương trên gần 1,71 tỷ USD, giá trung bình đạt 488,7 USD/tấn, tăng 15,4% về khối lượng, tăng 3,6 % về kim ngạch nhưng giảm 10,2% về giá so với cùng kỳ năm 2021.

Riêng tháng 6/2022 xuất khẩu 726.308 tấn gạo, tương đương 354,42 triệu USD, giá trung bình 488 USD/tấn, tăng trên 2% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 5/2022 nhưng giá giảm nhẹ 0,1%; so với tháng 6/2021 thì tăng mạnh 66,6% về lượng, tăng 46,8% kim ngạch nhưng giảm 11,9% về giá so với tháng 5/2021.

Trong tháng 6/2022 xuất khẩu gạo sang thị trường chủ đạo Philippines chỉ tăng nhẹ 0,2% về lượng, tăng 1,4% kim ngạch và tăng 1,2% về giá so với tháng 5/2022, đạt 355.651 tấn, tương đương 170,05 triệu USD, giá 478 USD/tấn; nhưng so với tháng 6/2021 thì tăng mạnh 135,9% về lượng, tăng 115,8% kim ngạch. Xuất khẩu gạo sang thị trường Trung Quốc tháng 6/2022 tiếp tục giảm mạnh 45,3% về lượng và giảm 48% kim ngạch so với tháng 5/2022, đạt 50.111 tấn, tương đương 24,94 triệu USD; so với tháng 6/2021 cũng giảm 48,9% về lượng, giảm 55,2% kim ngạch.

Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2022, Philippines vẫn đứng đầu về tiêu thụ gạo của Việt Nam, chiếm 46,5% trong tổng lượng và chiếm 44,5% trong tổng kim ngạch gạo xuất khẩu của cả nước, đạt 1,62 triệu tấn, tương đương 759,1 triệu USD, giá trung bình 467 USD/tấn, tăng 48,7% về lượng, tăng 30,9% về kim ngạch nhưng giảm 11,9% về giá so với cùng kỳ năm 2021.

Thị trường Trung Quốc đứng vị trí thứ 2, chiếm trên 12,6% trong tổng lượng và chiếm 13,4% trong tổng kim ngạch, đạt 438.068 tấn, tương đương 228,2 triệu USD, giá trung bình 520,3 USD/tấn, giảm 24,5% về lượng và giảm 26% kim ngạch; giá giảm nhẹ 2% so với cùng kỳ năm 2021.

Đứng thứ 3 vẫn tiếp tục là thị trường Bờ Biển Ngà chiếm 9,2% trong tổng lượng và chiếm 8,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước, đạt 322.730 tấn, tương đương 142,07 triệu USD, giá 440,2 USD/tấn, tăng mạnh 57,8% về lượng và tăng 36,4% kim ngạch nhưng giảm 13,6% về giá so với cùng kỳ.

Xuất khẩu sang các thị trường FTA RCEP đạt 2,37 triệu tấn, tương đương 1,14 tỷ USD, tăng 22,6% về lượng, tăng 10,4% kim ngạch. Xuất khẩu sang các thị trường FTA CPTTP đạt 272.520 tấn, tương đương 134,13 triệu USD, tăng 14,1% về lượng, tăng 1,6% kim ngạch so với cùng kỳ năm 2021.

Xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2022

(Tính toán từ số liệu công bố ngày 11/7/2022 của TCHQ)

Trung Quốc ban hành hạn ngạch xuất khẩu phốt phát

Theo Reuters, các chuyên gia cho biết, Trung Quốc đang áp dụng hạn ngạch để hạn chế xuất khẩu phốt phát - một thành phần quan trọng để sản xuất phân bón, trong nửa cuối năm nay.

Hạn ngạch thấp hơn nhiều so với mức xuất khẩu của năm trước, biện pháp này của Trung Quốc nhằm mục đích giữ ổn định giá nội địa và bảo vệ an ninh lương thực trong khi giá phân bón toàn cầu đang tăng gần mức cao kỷ lục.

Tháng 10/2021, Trung Quốc cũng đã hạn chế xuất khẩu bằng cách đưa ra yêu cầu mới về giấy chứng nhận kiểm tra đối với phân bón và các nguyên liệu liên quan, góp phần làm cho nguồn cung toàn cầu bị thắt chặt.

Giá phân bón đã tăng lên do các lệnh trừng phạt đối với các nhà sản xuất lớn ở Belarus và Nga, trong khi giá ngũ cốc tăng cao đang thúc đẩy nhu cầu về phân lân và các loại phân bón cho cây trồng khác trên khắp thế giới.

Trung Quốc là nước xuất khẩu phốt phát lớn nhất thế giới, xuất khẩu 10 triệu tấn vào năm 2021, chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới. Theo số liệu hải quan Trung Quốc, xuất khẩu chủ yếu sang Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh.

Ông Gavin Ju, chuyên gia phân tích thị trường phân bón Trung Quốc tại CRU Group, cho biết Trung Quốc đã ban hành hạn ngạch xuất khẩu chỉ hơn 3 triệu tấn phốt phát trong nửa cuối năm nay, kể từ cuối tháng sáu; giảm 45% so với mức xuất khẩu 5,5 triệu tấn của Trung Quốc trong cùng kỳ năm trước.

Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc, cơ quan quyền lực của Trung Quốc, đã từ chối trả lời về việc phân bổ hạn ngạch, vốn chưa được công bố công khai.

Các nhà phân tích tại S&P Global Commodity Insights cho biết họ cũng dự kiến hạn ngạch khoảng 3 triệu tấn trong nửa cuối năm.

Mặc dù Trung Quốc trước kia đã áp thuế xuất khẩu đối với phân bón, nhưng đây là lần đầu tiên nước này sử dụng giấy chứng nhận kiểm định và hạn ngạch xuất khẩu.

Các nhà sản xuất phốt phát lớn khác, chẳng hạn như phốt phát diammonium (DAP) không hạn chế xuất khẩu, bao gồm Maroc, Hoa Kỳ, Nga và Saudia Arabia.

Giá cả tăng vọt trong năm qua đã làm dấy lên lo ngại đối với Trung Quốc, quốc gia cần đảm bảo an ninh lương thực cho 1,4 tỷ dân khi tất cả các chi phí đầu vào sản xuất đều tăng. Tuy nhiên, giá nội địa của Trung Quốc vẫn ở mức thấp hơn nhiều so với giá thế giới và hiện đang thấp hơn khoảng 300 USD so với mức giá 1.000 USD/tấn tại Brazil đang xuất khẩu.

Xuất khẩu phốt phát của Trung Quốc tăng trong nửa đầu năm 2021 trước khi giảm vào tháng 11/2021, sau khi yêu cầu kiểm tra giấy chứng nhận.

Xuất khẩu DAP và monoamoni photphat trong 5 tháng đầu năm nay đạt 2,3 triệu tấn, giảm 20% so với một năm trước.

Các chuyên gia cho biết Trung Quốc hạn chế xuất khẩu sẽ góp phần đẩy giá thế giới tăng cao, khiến người mua phải tìm kiếm các nguồn thay thế khác.

S&P Global Commodity Insights cho biết, thị trường nhập khẩu lớn nhất là Ấn Độ gần đây đã giới hạn giá nhập khẩu DAP ở mức 920 USD/tấn và nhu cầu từ Pakistan cũng giảm do giá cao.

Ông Glen Kurokawa, chuyên gia phân tích của CRU phosphates cho biết mặc dù giá đã giảm nhẹ trong những tuần gần đây khi thị trường đã thích ứng với hậu quả của cuộc khủng hoảng Ukraine, nhưng giá sẽ giảm nhiều hơn nếu Trung Quốc không giảm hạn ngạch xuất khẩu. Hiện có một số nguồn cung khác, nhưng nhìn chung thị trường đang khan hiếm.

Đồng euro ngang giá USD

Lần đầu tiên trong vòng 20 năm, một đô la Mỹ có giá gần bằng một euro.

Tác động của cuộc chiến giữa Nga – Ukraine đã đẩy giá dầu và khí đốt lên cao trên khắp châu Âu và toàn cầu, kết hợp với mức lạm phát cao và nền kinh tế toàn cầu đang suy yếu làm sụt giảm giá trị của đồng euro. Điều này khiến đồng đô la Mỹ được nâng giá trị dù cho Mỹ cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề tương tự như châu Âu. Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ tăng lãi suất đã làm cho đồng đô la trở nên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư so với đồng euro.

Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ đã tăng lãi suất 3 lần trong năm 2022 và đang có kế hoạch tăng thêm bốn lần nữa nhằm kiểm soát lạm phát. Ngân hàng Trung ương châu Âu cũng dự kiến ​​sẽ tăng lãi suất, nhưng với tốc độ tăng chậm hơn.

Lần cuối cùng đô la Mỹ ngang giá đồng euro là tháng 12/2002, chưa đầy ba năm sau khi đồng tiền này được hình thành vào năm 1999. Đồng euro đạt giá trị cao nhất so với đồng đô la vào năm 2008, khi một euro tương đương 1,60 USD. Giá trị của nó đã giảm 16% so với đồng đô la trong 12 tháng qua và giảm 12% vào năm 2022.

Việc đồng đô la mạnh hơn sẽ giúp ích cho người tiêu dùng Mỹ khi giá cả hàng hóa trở nên phải chăng hơn, có khả năng giúp giảm áp lực lạm phát. Các nhà xuất khẩu châu Âu sang Mỹ sẽ được hưởng lợi phần nào khi hàng hóa của họ trở nên ít đắt đỏ hơn đối với người tiêu dùng Mỹ. Nhưng các nhà xuất khẩu thủy sản của Mỹ sẽ bị tổn hại trong nỗ lực bán hàng hóa của họ ra nước ngoài.

Theo CEO Jay Hatfield - Giám đốc điều hành của Cơ sở quản lý vốn hạ tầng Jay Hatfield, lạm phát gia tăng nhanh chóng và sự tắc nghẽn của chuỗi cung ứng đã khiến hàng hóa trở nên đắt đỏ hơn, nhưng đồng đô la mạnh hơn có thể giúp kiềm chế giá cả. Đồng đô la mạnh khiến giá hàng hóa toàn cầu thấp hơn, vì hầu hết hàng hóa đều được định giá bằng đô la; Chúng tôi dự đoán rằng lạm phát sẽ bắt đầu giảm đáng kể vào mùa thu khi giá hàng hóa được phản ánh trong các chỉ số giá cả.

Alex Kuptsikevich - nhà phân tích thị trường cấp cao của công ty kinh doanh ngoại tệ FxPro, cho rằng việc đồng euro yếu hơn là một dấu hiệu của tăng trưởng kinh tế chậm hơn ở châu Âu.

Tỷ giá hối đoái thay đổi đi cùng với mức lạm phát cao hơn, châu Âu có thể đối mặt với tương lai một nền kinh tế ảm đạm.

“Điều này ngày càng rõ rằng khu vực đồng euro đang đi vào suy thoái, ngay cả khi các điều kiện tài chính đã thắt chặt hơn ở Mỹ hoặc Nhật Bản,” Nhà kinh tế trưởng Robin Brooks của Viện Tài chính Quốc tế cho biết.

                                    PTN - Tổng hợp

Số lượt xem: 25

Thống kê truy cập
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH BẠC LIÊU
Chịu trách nhiệm chính: Giám đốc Sở Công Thương
Địa chỉ: Đường Nguyễn Tất Thành, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: (0291) 3823848 - Fax: (0291) 3824890 
Email: sct@baclieu.gov.vn hoặc trungtamkhuyencongbl@gmail.com