Liên kết web
Thăm dò

null Sản xuất kinh doanh từ 04-07/01/2022

Tin trong nước
Thứ sáu, 07/01/2022, 14:30
Màu chữ Cỡ chữ
Sản xuất kinh doanh từ 04-07/01/2022

 

Thị trường Hoa Kỳ: Dư địa còn nhiều cho nông sản Việt

Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ khổng lồ đối với các loại hàng hóa nói chung và nông sản thực phẩm nói riêng.

Hoa Kỳ là vừa là quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu nhưng đồng thời cũng là quốc gia nhập khẩu nông sản lớn nhất thế giới. Dự báo năm 2022 xuất khẩu nông sản của Hoa Kỳ sẽ đạt trên 175 tỷ USD và giá trị nhập khẩu khoảng 165 tỷ USD, điều này cho thấy quy mô thị trường tiêu thụ nông sản thực phẩm của Hoa Kỳ là rất lớn.

Một số nhóm sản phẩm có tỉ trọng nhập khẩu lớn bao gồm thủy sản, nông sản nhiệt đới, gia vị chiếm đến trên 90%, rau quả tươi, hạt thực vật, nước trái cây tỉ trọng nhập khẩu chiếm từ 20 - 50%. Những sản phẩm mà Việt Nam có thế mạnh cũng là nhóm hàng chiếm tỉ trọng nhập khẩu lớn.

Đối với xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam thì trong 11 tháng 2021, Hoa Kỳ tiếp tục trở thành thị trường nhập khẩu lớn nhất với giá trị đạt trên 10 tỷ USD, trong đó gỗ và sản phẩm gỗ cùng nhóm hàng thủy sản chiếm tỉ trọng lớn nhất; nhóm hàng nông sản mặc dù chiếm tỉ trọng khiêm tốn nhưng cũng đạt được được mức tăng khá ấn tượng so với cùng kỳ năm trước.

Mặc dù Việt Nam được coi là 1 trong 10 đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ, tuy nhiên tổng giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản chỉ chiếm khoảng 1 - 2% giá trị nhập khẩu nông sản của Hoa Kỳ nên có thể thấy dư địa xuất khẩu còn rất nhiều, quan trọng là chúng ta có khả năng đáp ứng được hay không.

Thuận lợi

Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ khổng lồ đối với các loại hàng hóa nói chung và nông sản thực phẩm nói riêng. Dân số có sức mua lớn, nhu cầu đa dạng, đặc biệt là thế hệ trẻ có nhu cầu sản phẩm đặc sản mới lạ, độc đáo.

Năng lực xuất khẩu và khả năng cạnh tranh, đáp ứng của các doanh nghiệp Việt Nam đã được cải thiện. Cơ cấu xuất khẩu nông sản đang có những chuyển biến tích cực theo hướng đa dạng hóa chủng loại mặt hàng và tăng tỉ trọng hàng nông sản thực phẩm chế biến, điều này thể hiện ở kim ngạch xuất khẩu tăng dần qua từng năm. Nhiều mặt hàng, thương hiệu đã có chỗ đứng trên thị trường, ví dụ bánh pía Tân Huê Viên đã có mặt tại hệ thống cửa hàng bán buôn Costco.

Hoa Kỳ cũng là quốc gia đa sắc tộc với nhu cầu, thói quen tiêu dùng khác nhau, dẫn đến thị trường thực phẩm rất đa dạng. Đặc biệt mức độ chênh lệch thu nhập trong các tầng lớp dân cứ dẫn đến nhu cầu lớn đối với cả hàng cao cấp lẫn bình dân. Vì vậy doanh nghiệp Việt Nam dù là quy mô nhỏ nhưng vẫn có thể tìm được phân khúc cho hàng hóa của mình tại thị trường này.

1 lợi thế quan trọng khác không thể bỏ qua là chúng ta có cộng đồng hơn 1 triệu người Việt ngày càng phát triển mạnh mẽ. Đây không chỉ là lực lượng có nhu cầu tiêu dùng trực tiếp nông sản Việt mà còn là cầu nối quan trọng đưa hàng hóa xâm nhập vào thị trường này.

Ngoài ra thì hệ thống luật lệ quy định của Hoa Kỳ khá minh bạch, rõ ràng, chế tài nghiêm minh, thông tin được đăng tải đầy đủ trên trang web kèm theo dẫn chiếu tới các quy đinh khác liên quan rất thuận tiện cho việc tra cứu, tìm hiểu.

Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi thì việc mở rộng thị trường cũng gặp phải không ít khó khăn, nếu không muốn muốn là nhiều hơn thuận lợi mà ở đây tôi chỉ xin điểm một số.

Đầu tiên là tình trạng lạm phát gia tăng dẫn đến giá cả tăng và người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu, lựa chọn cẩn thận hơn về hàng thực phẩm.

Yêu cầu về về vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dich động thực vật của Hoa Kỳ rất cao. Hàng nông sản thực phẩm nhập khẩu vào thị trường này có thể đa dạng về chủng loại và và giá cả, nhưng yêu cầu về an toàn thực phẩm luôn phải được được đảm bảo và có cả một hệ thống các cơ quan thực thực thi pháp luật tiến hành kiểm soát với quy trình rất nghiêm ngặt.

Ngoài ra còn có yêu cầu về lao động và môi trường. Ví dụ, đến năm 2023 Hoa Kỳ sẽ chỉ cho phép nhập khẩu thủy sản đánh bắt từ các nước có hệ thống kiểm soát nghề cá không gây tác động lớn tới thú biển. Điều này sẽ đặt ngành thủy sản của Việt Nam trước thách thức vô cùng to lớn.

Hệ thống các quy định và tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm của Hoa Kỳ rất phức tạp ở cấp bang và cấp liên bang. Thực phẩm nhập khẩu thường tuân thủ các quy định cấp liên bang, nhưng để lưu thông được tại các bang hoặc địa bàn cơ sở thì lại chịu sự điều chỉnh của luật từng bang. Về nguyên tắc, các quy định cấp bang có thể nghiêm ngặt hơn nhưng không được phép lỏng hơn so với quy định cấp liên bang.

Hoa Kỳ là thị trường rộng mở đối với hàng nông sản nhập khẩu nhưng cũng chính vì đặc điểm này mà Hoa Kỳ cũng trở thành thị trường khó khăn và cạnh tranh bậc nhất. Việt Nam không chỉ phải phải canh trạnh với các nước có cùng chủng loại sản phẩm mà còn phải đấu ngay chính với các nhà sản xuất nội địa.

Thực tế, các nhà phân phối bán lẻ chỉ thay đổi nhà cung cấp cấp khi họ thấy giá cả cạnh tranh và đáp ứng đủ đơn hàng theo yêu cầu của họ, mà đây lại là điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam do thường sản xuất trên quy mô nhỏ, tính liên kết yếu, thường không đủ đáp ứng những đơn hàng lớn.

Khoảng cách địa lý xa, hệ thống logistics yếu kém cũng là yếu tố bất lợi so với các nước trong khu vực Nam Mỹ, làm giảm khả năng cạnh tranh của nông sản Việt.

Khi xuất khẩu nông sản hàng hóa sang Hoa Kỳ ngày càng tăng thì chúng ta cũng phải đối mặt với các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại ngày càng nhiều. Điều này là thực tế hết sức hiển nhiên, các doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn sàng để đối phó. Ví dụ cụ thể là cá tra, cá ba sa hay tôm Việt Nam đã phải trả qua nhiều năm bị điều tra áp thuế, hay gần đây họ đã ra phán quyết sơ bộ áp thuế mật ong thô của Việt Nam lên mức rất cao, hơn 400%.

Một số lưu ý

Cần có sự chuẩn bị chu đáo, chuyên nghiệp, bao gồm có nghiên cứu cụ thể về phân khúc thị trường, dòng sản phẩm, tìm hiểu về các quy trình thủ tục đối với từng loại sản phẩm, các tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm, bao bì đóng gói, tính toán đến cả chi phí tiếp cận thị trường.

Sự chuyên nghiệp còn thể thể hiện ở nội dung trang web giới thiệu công ty, giới thiệu sản phẩm hay ở cách giao dịch với đối tác Hoa Kỳ và điều quan trọng phải cho người dân Mỹ thấy được cách mình tạo ra sản phẩm hay lợi ích về sức khỏe đối với sản phẩm đặc sản nhiệt đới, ví dụ trà thảo dược…

Cần tích cực tham gia các hội chợ nông sản thực phẩm cả trực tuyến và trực tiếp. Đây là kênh tìm kiếm khách hàng phổ biến và đa dạng nhất.

Lưu giữ đầy đủ hồ sơ quá trình sản xuất, chế biến để truy xuất thông tin và phục vụ các đợt thẩm tra tại chỗ của các cơ quan chức năng của Hoa Kỳ. Trong trường hợp xảy ra các vụ điều tra phòng vệ thương mại, các doanh nghiệp cần chủ động liên hệ với các cơ quan thuộc Bộ Công thương, Bộ NN-PTNT để nắm bắt thông tin cần thiết, kịp thời.

Dự báo thị trường thịt gia cầm thế giới sẽ tăng trưởng 2% trong năm 2022

Các chuyên gia của Ngân hàng Rabobank cảnh báo, ngành công nghiệp gia cầm thế giới sẽ gặp nhiều thách thức trong năm 2022, vì thị trường vẫn bị ảnh hưởng lớn bởi dịch Covid-19. 

Ngành công nghiệp gia cầm cần phải sẵn sàng điều chỉnh các kênh bán hàng để đáp ứng các biện pháp điều hành của chính phủ. Các công ty chăn nuôi và chế biến cũng sẽ gặp thách thức, vì thức ăn chăn nuôi và các chi phí đầu vào khác, như chi phí vận chuyển hàng hóa và giá năng lượng dự kiến sẽ vẫn ở mức cao.

Theo dự báo của ngân hàng Rabobank, lực lượng lao động đã trở thành một vấn đề lớn ở nhiều quốc gia, làm hạn chế sản xuất ở một số thị trường. Vấn đề logistics ngày càng trở nên phức tạp hơn vì kho chứa hàng đông lạnh bị hạn chế và chi phí cao. Chi phí nhân công đắt đỏ và lo lắng về lãi suất tăng đang làm giảm tốc độ đầu tư vào lĩnh vực này và làm nguồn cung giảm trong khi nhu cầu tăng mạnh sẽ góp phần đẩy giá tăng lên, điều này sẽ thúc đẩy các nhà sản xuất phải tập trung tăng sản lượng, tăng thu mua và cần tính toán hiệu quả kinh doanh, giảm sử dụng thức ăn chăn nuôi và giảm chi phí lao động. Điều này cũng sẽ dẫn đến việc cần phải nỗ lực để đảm bảo an ninh lương thực để chống lạm phát và giữ giá gia cầm ở mức vừa phải, đặc biệt là ở các thị trường mới nổi,

Tuy nhiên, nhu cầu sẽ tăng mạnh, với mức tăng trưởng toàn cầu dự kiến đạt 2%, bất chấp những thách thức về hạn chế nguồn cung. Dưới đây là những dự báo về ngành công nghiệp gia cầm trong năm 2022:

Covid-19

Đại dịch Covid-19 đang diễn ra có ảnh hưởng lớn đến ngành chăn nuôi gia cầm trên toàn cầu. Trong giai đoạn bùng phát đầu tiên, số người nhiễm Covid-19 cao, sản xuất bị đình trệ và thiệt hại nặng nề. Bên cạnh việc chuyển từ bán lẻ thực phẩm sang dịch vụ ăn uống, còn nhiều vấn đề về thị trường, khó khăn trong xuất khẩu và sự gián đoạn trong chuỗi cung ứng.

Ông Nan-Dirk Mulder - chuyên gia phân tích cao cấp về ngành thịt tại Rabobank nói về tác động của Covid-19 trong thời gian sắp tới: Các nền kinh tế đang mở cửa trở lại trên con đường gập ghềnh, với những thăng trầm trong lĩnh vực bán lẻ và dịch vụ thực phẩm, đóng cửa và mở cửa, nhưng cuối cùng vẫn phát triển.

Chi phí chăn nuôi và lạm phát

Giá thức ăn chăn nuôi ảnh hưởng phần lớn đến giá thịt trên toàn cầu và là chi phí chủ yếu cho ngành chăn nuôi gia cầm. Giá thức ăn chăn nuôi đã tăng mạnh từ quý 3/2020, nhưng chi phí của ngành chăn nuôi tăng không chỉ là riêng giá thức ăn chăn nuôi tăng, mà còn cả chi phí lao động, giá năng lượng, chi phí vận chuyển hàng hóa cũng tăng.

Chi phí tăng như vậy tạo ra áp lực đối với toàn bộ chuỗi cung ứng gia cầm. Liệu lạm phát giá thực phẩm có bù đắp được chi phí sản xuất tăng hay không? Thật khó để dự đoán liệu hầu hết các áp lực về chi phí sẽ được giảm bớt trong năm 2022 nhưng sẽ có những thay đổi quan trọng trong từng khu vực.

Về chi phí chăn nuôi, Ông Nan-Dirk Mulder có một số lời khuyên hữu ích cho ngành chăn nuôi gia cầm: Chi phí nhân công, vận chuyển, năng lượng và thức ăn chăn nuôi tăng sẽ tiếp tục thách thức chuỗi cung ứng thịt. Vì vậy, cần phải kiểm soát chi phí vào thời điểm hiện tại. Nếu bạn có một mô hình kinh doanh hiệu quả trong hoạt động của mình, trong trang trại, trong nhà máy chế biến, thì cuối cùng sẽ thành công. Trong thời kỳ chi phí và lạm phát cao, những mô hình hiệu quả nhất sẽ luôn mang lại lợi ích nhiều hơn những mô hình khác.

Chi phí tăng và lạm phát cũng đang cản trở người tiêu dùng, trong đó tác động mạnh hơn đối với dịch vụ ăn uống so với lĩnh vực bán lẻ. Người tiêu dùng vẫn không thoải mái với việc ăn uống tại chỗ, dẫn đến lượng tiêu thụ các nhà hàng giảm. Do đó, lĩnh vực dịch vụ thực phẩm, mặc dù đang phục hồi, nhưng sẽ tiếp tục đối mặt với một số khó khăn.

Nhân công

Lực lượng lao động tiếp tục là điều đáng lo ngại đối với ngành chăn nuôi gia cầm trên toàn cầu, trầm trọng hơn do ảnh hưởng của Covid-19. Nhiều công ty chăn nuôi gia cầm gặp khó khăn trong việc tìm kiếm lao động, không chỉ ở các thị trường phương Tây, mà còn ở các thị trường mới nổi. Do hạn chế đi lại của người lao động và lao động nhập cư nên nguồn lao động đang thiếu hụt. Ví dụ ở Anh, sự kết hợp giữa Covid-19 và Brexit đã dẫn đến một loạt các vấn đề, bao gồm tình trạng thiếu tài xế giao hàng và thiếu nhân viên trong các nhà máy chế biến gia cầm.

Ông Nan-Dirk Mulder cho rằng, hầu hết các khu vực đang hoạt động ở mức hòa vốn hoặc tận dụng các cơ hội để có lãi, với sự mở cửa trở lại của các nền kinh tế ở châu Âu và châu Mỹ giúp thị trường phục hồi và thúc đẩy thương mại toàn cầu.

Về mặt hiệu suất, đặc biệt là Châu Mỹ, một phần của Trung Đông và Bắc Phi đang hoạt động tương đối tốt. Covid-19 sẽ tiếp tục lây lan ở Châu Âu và Đông Nam Á trong năm 2022, dẫn đến kết quả kinh doanh khó khăn. Nhìn chung, sẽ có một số cải thiện, trong bối cảnh nhiều thách thức trong kinh doanh.

Triển vọng tích cực

Năm 2022, sẽ có nhiều yếu tố thay đổi, chi phí đầu vào tăng, việc chuyển đổi sang sử dụng protein bền vững hơn, an toàn sinh học, dịch cúm gia cầm và dịch Covid-19 sẽ vẫn còn, chi phí chăn nuôi, thiếu hụt lao động và gián đoạn chuỗi cung ứng sẽ tiếp tục tác động đến hoạt động kinh doanh. Bất chấp những yếu tố này, ngành thịt gia cầm vẫn có sự lạc quan. Dự báo kinh tế sẽ phục hồi mạnh mẽ. Ông Nan-Dirk Mulder cho biết thêm, sự kết hợp giữa nguồn cung giảm và nhu cầu tăng sẽ tác động làm giá tăng mạnh.

Thị trường thịt gia cầm toàn cầu năm 2022 sẽ bắt đầu ổn định. Dự báo mới nhất của IMF cho thấy sự phục hồi tương đối nhanh của nền kinh tế toàn cầu, dự kiến sẽ tăng trưởng 5,9% so với năm 2021 và tăng trưởng ở hầu hết các nước.

Giá gạo của Ấn Độ chạm mức thấp nhất trong vòng ba tháng

Tỷ lệ xuất khẩu gạo của Ấn Độ giảm xuống mức thấp nhất trong ba tháng qua (kể từ giữa tháng 8 tới tháng 11) do nhu cầu giảm từ người mua ở châu Phi, trong khi các thương nhân Việt Nam kỳ vọng nguồn cung trong nước giảm sẽ ngăn đà giảm của giá gạo.

Giữa tháng 11/2021, giá gạo 5% tấm được báo giá ở mức 354 - 360 USD/tấn, đây là mức thấp nhất kể từ giữa tháng 8, giảm từ 359 - 364 USD một tuần trước đó (đầu tháng 11/2021). Đây là mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Ấn Độ. Một nhà xuất khẩu có trụ sở tại Kakinada, Andhra Pradesh cho biết: "Người mua đang trì hoãn việc mua hàng vì giá đã giảm trong vài tuần qua. Họ đang mong đợi giá sẽ giảm hơn nữa".

Cùng với đà giảm chung của giá gạo thế giới, giá gạo 5% tấm của Việt Nam giảm xuống còn 425- 430 USD/tấn từ 430- 435 USD/tấn một tuần trước đó. Một thương nhân có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: “Giá giảm theo đà giảm của giá gạo từ các nước xuất khẩu khác, bao gồm cả Ấn Độ và Pakistan”. Tuy nhiên, với việc nguồn cung ở Việt Nam giảm có khả năng sẽ ngăn giá tiếp tục giảm trong những tuần tới, với vụ thu hoạch tiếp theo dự kiến ​​chỉ vào cuối tháng 2 hoặc đầu tháng 3/2022.

Trái ngược với xu hướng giảm giá gạo của Việt Nam và Ấn Độ, giá gạo 5% tấm của Thái Lan đã tăng lên 385- 395 USD/tấn từ 377- 383 USD vào tuần trước, nhờ sự tăng giá của đồng baht Thái so với đô la Mỹ và nhu cầu tăng sau khi giá giảm trong tuần trước xuống mức thấp nhất kể từ tháng 10/2017. Các thương nhân cho biết chi phí hậu cần cao, đã ảnh hưởng đến lĩnh vực xuất khẩu nói chung của Thái Lan, làm ảnh hưởng đến doanh số bán gạo. "Nhu cầu đã dần được cải thiện do giá giảm trong tuần trước nhưng chi phí vận chuyển vẫn cao, điều này đã cản trở các giao dịch", một thương nhân có trụ sở tại Bangkok cho biết.

Xuất khẩu nông sản sang EU nắm bắt cơ hội từ EVFTA

EU là một trong các thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam. Hiệp định EVFTA được coi là cơ hội để nông sản Việt liên kết sâu rộng vào thị trường lớn, có giá bán cao, nhưng cũng là thách thức đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu cần phải thay đổi mạnh mẽ hơn nữa để tăng trưởng xuất khẩu bền vững sang thị trường “khó tính” này.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính của Việt Nam (bao gồm cà phê, hạt điều, cao su, rau quả, hạt tiêu, gạo và chè) sang thị trường EU trong 11 tháng năm 2021 đạt khoảng 2,2 tỷ USD và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2020. Với kết quả này, EU là một trong những thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất nước ta, chiếm 13,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính. Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang EU cụ thể như sau: cà phê (chiếm 42,2% tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính sang EU), hạt điều (chiếm 33%), cao su (chiếm 7,9%), rau quả (chiếm 7,8%), hạt tiêu (chiếm 7,4%), gạo (chiếm 1,7%) và chè (chiếm 0,1%). Cơ cấu các mặt hàng nông sản của Việt Nam sang EU 11 tháng năm 2021 (% tính trị giá) 

Về thị trường xuất khẩu sang các nước thành viên EU, dù chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, kim ngạch xuất khẩu nông sản sang các thị trường chủ lực của Việt Nam tại khu vực EU đều tăng trưởng tích cực hoặc chỉ giảm nhẹ: Đức (chiếm 28,8% tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính của Việt Nam sang EU, đạt 641 triệu USD, tăng 24,4% so với cùng kỳ năm 2020), Hà Lan (chiếm 22,5%, đạt 500 triệu USD, tăng 1,9%), Italy (chiếm 12,8%, đạt 285 triệu USD, tăng 3,2%), Tây Ban Nha (chiếm 9%, đạt 202 triệu USD, giảm nhẹ 0,6%), Pháp (chiếm 6,4%, đạt 142 triệu USD, tăng 25,2%),... Ngoài ra, một số thị trường có kim ngạch xuất khẩu nhỏ nhưng đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ, cho thấy tiềm năng xuất khẩu: Phần Lan (tăng 198%), Hungary (tăng 86,9%), Cộng hoà Séc (tăng 49,2%),...

Hiệu quả thực thi EVFTA của từng ngành hàng cụ thể: 

1. Cà phê 

Với cam kết xóa bỏ thuế quan theo EVFTA, cà phê xuất khẩu sang EU sẽ có 93% dòng thuế về 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Đây là một cơ hội tốt cho cà phê Việt Nam khi EU là thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất trên thế giới, với kim ngạch nhập khẩu từ các nước ngoại khối khoảng 10 tỷ USD/năm, chiếm 66% lượng nhập khẩu và khoảng 30% lượng tiêu thụ toàn cầu. Với trị giá xuất khẩu đạt 939 triệu USD trong 11 tháng 2021, EU cũng đang là thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam, chiếm gần 34,8% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này. Trong số các thị trường thành viên EU, cà phê Việt Nam được xuất chủ yếu sang các nước: Đức (đạt 377 triệu USD), Italy (đạt 205 triệu USD), Tây Ban Nha (đạt 119 triệu USD) và Bỉ (đạt 97 triệu USD). Xuất khẩu cà phê sang EU trong 11 tháng 2021 chỉ tăng nhẹ 0,5% (do giảm 11,6% về lượng xuất khẩu) so với cùng kỳ năm 2020, nhưng trong số các mặt hàng nông sản xuất sang EU, cà phê vẫn duy trì vị trí dẫn đầu trong trị giá xuất khẩu. Trong đó, mã HS 09011110 (Arabica WIB hoặc Robusta OIB) là chủng loại được xuất khẩu nhiều nhất, đạt 838 triệu USD, tương đương cùng kỳ 2020 và chiếm 89,3% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê sang thị trường EU. Đứng thứ hai là mã HS 21011110 (cà phê tan) với kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 60 triệu USD, tăng khoảng 4,2% so với cùng kỳ và chiếm khoảng 6,4%. 

2. Hạt điều

Trước khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, các mặt hàng như điều nhân vẫn hưởng ưu đãi là 0% khi xuất sang EU, nhưng điều chế biến sâu vẫn chịu thuế từ 7 đến 12%. Theo cam kết Hiệp định EVFTA, những sản phẩm chế biến sâu từ hạt điều được giảm thuế xuống còn 0%. Vì vậy, dù chịu nhiều tác động từ dịch bệnh nhưng sản lượng và giá trị xuất khẩu điều sang EU không những không sụt giảm mà còn tăng. Xuất khẩu hạt điều sang EU trong 11 tháng 2021 đạt 122 nghìn tấn, tương đương 734 triệu USD, tăng 15,2% về lượng và tăng 6,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020. Đây là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩu sang EU. EU là thị trường xuất khẩu hạt điều lớn thứ hai của Việt Nam (sau Hoa Kỳ), chiếm 22% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong 11 tháng năm 2021. Trong số các thị trường thành viên EU, hạt điều được xuất chủ yếu sang hai nước: Hà Lan (đạt 346 triệu USD) và Đức (đạt 123 triệu USD). Nhu cầu tiêu thụ hạt điều tại các nước này liên tục tăng do nhu cầu cao từ các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và nhu cầu tiêu dùng cuối cùng của người dân, cho thấy triển vọng khả quan của hạt điều xuất khẩu trong năm 2022.

3. Cao su 

Với EVFTA, cao su tổng hợp và các chất dẫn xuất sẽ không có lợi thế mới vì thuế suất đã đang là 0%. Tuy nhiên, các loại ống ghép nối bằng cao su và lốp cao su được miễn thuế ngay lập tức từ mức 3%-4,5% trước đây. Băng tải, băng truyền, hoặc đai tải bằng cao su sẽ được giảm theo kỳ hạn 5 năm từ 6,5%. Đây là động lực thúc đẩy xuất khẩu cao su và sản phẩm từ cao su. Trong 11 tháng 2021, xuất khẩu cao su sang EU đạt khoảng 100 nghìn tấn, tương đương 175 triệu USD, tăng 33,7% về lượng và tăng mạnh 72,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020. Các chủng loại cao su xuất khẩu chủ yếu sang EU là: mã HS. 40012240 - cao su tự nhiên đã định chuẩn về kỹ thuật (TSNR) CV (đạt 71 triệu USD, tăng mạnh 88,8% so với cùng kỳ 2020 và chiếm 40,8% tổng kim ngạch xuất khẩu cao su sang EU); mã HS. 40012290 - TSNR loại khác (đạt 43 triệu USD, tăng mạnh 85,8%, chiếm 24,6%), mã HS. 40011011 - Mủ cao su cô đặc bằng phương pháp ly tâm (SEN) (đạt 21 triệu USD, tăng mạnh 87,4%, chiếm 12,1%),… Trong số các thị trường thành viên EU, cao su Việt Nam được xuất chủ yếu sang các nước: Đức (đạt 62 triệu USD), Italy (đạt 25 triệu USD), Tây Ban Nha (đạt 22 triệu USD) và Hà Lan (đạt 17 triệu USD). Tại thị trường EU, ngành công nghiệp – sản xuất – tiêu dùng đang phát triển mạnh mẽ (sản xuất máy bay, ô tô, xe máy, thiết bị, máy móc cho ngành chế tạo, y tế, hàng tiêu dùng…), nhu cầu tiêu thụ của EU đối với cao su và các sản phẩm từ cao su rất lớn, đặc biệt là các chủng loại cao su cao cấp (SVR CV) và chủng loại SVR 10, SVR 20, dự báo đà tăng trưởng nối tiếp của mặt hàng này trong những năm tiếp theo.

4. Rau quả 

EU cam kết mở cửa rất mạnh cho rau quả Việt Nam trong EVFTA, 94% trong tổng số 547 dòng thuế rau quả và các chế phẩm từ rau quả (trong đó có nhiều sản phẩm là thế mạnh của Việt Nam như vải, nhãn, chôm chôm, thanh long, dứa, dưa,…) được xoá bỏ ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Phần lớn các dòng thuế EU cam kết xóa bỏ ngay hiện đều đang có mức thuế MFN trung bình là trên 10%, cá biệt có những sản phẩm rau quả đang chịu thuế trên 20%. Do đó, mức cam kết này của EU được đánh giá là sẽ tạo ra lợi thế lớn về giá cho rau quả Việt Nam (đặc biệt trong cạnh tranh nhập khẩu vào EU với các nước có thế mạnh về rau quả chưa có FTA với EU như Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia). 

Xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang thị trường EU sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực và đi vào thực thi đã đạt được kết quả tích cực. Trong 11 tháng 2021, kim ngạch xuất khẩu rau quả sang EU đạt 173 triệu USD, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2020. Các chủng loại rau quả xuất khẩu chủ yếu sang EU là: mã HS. 20098999 - Các loại nước ép trái cây (kể cả hèm nho) và nước rau ép, chưa lên men và chưa pha thêm rượu, đã hoặc chưa pha thêm đường hoặc chất tạo ngọt khác - Loại khác (đạt 28 triệu USD, giảm 23,5% so với cùng kỳ 2020 và chiếm 16% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả sang EU); mã HS. 8109094 - Quả lựu, quả mãng cầu hoặc quả na, quả roi, quả thanh trà, quả chanh leo, quả sấu đỏ, quả táo ta, và quả dâu da đất (đạt 22 triệu USD, tăng 19,8%, chiếm 13%); mã HS. 08119000 - Quả và quả hạch (nuts), đã hoặc chưa hấp chín hoặc luộc chín trong nước, đông lạnh, đã hoặc chưa thêm đường hoặc chất tạo ngọt khác - Loại khác (đạt 18 triệu USD, tăng 23,8%, chiếm 10,4%)… 

Trong 11 tháng năm 2021, EU là thị trường xuất khẩu rau quả lớn thứ tư của Việt Nam, chiếm 5,3% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này. Trong số các thị trường thành viên EU, rau quả của Việt Nam được xuất chủ yếu sang các nước: Hà Lan (đạt 71 triệu USD), Pháp (đạt 35 triệu USD) và Đức (đạt 20 triệu USD). Lượng rau, quả tiêu thụ có xu hướng ngày một tăng tại EU do thói quen ăn uống để bảo vệ, tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, thị trường EU đòi hỏi rất khắt khe về các truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, đặc biệt là an toàn vệ sinh thực phẩm. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải tìm hiểu, nắm bắt rõ thông tin về thị trường, từ thị hiếu người tiêu dùng cho đến những quy định, tiêu chuẩn về quy tắc xuất xứ, an toàn vệ sinh thực phẩm… để từ đó gia tăng chất lượng hàng hóa, chinh phục thị trường “khó tính” này. 

5. Hạt tiêu 

Đối với Hiệp định EVFTA, các nước EU cam kết xóa bỏ thuế quan đối với sản phẩm hạt tiêu (mã HS 0904) ngay khi Hiệp định có hiệu lực. EVFTA có hiệu lực sẽ là đòn bẩy tốt để các doanh nghiệp Việt Nam tăng cường xuất khẩu vào các nước EU (đặc biệt là đối với các sản phẩm chế biến trước đây có mức thuế từ 5 - 9%). Ưu đãi từ Hiệp định đang được tận dụng hiệu quả khi kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu sang EU trong 11 tháng 2021 đạt khoảng 40 nghìn tấn, tương đương 165 triệu USD, tăng 7,4% về lượng và tăng mạnh 63,9% và trị giá xuất khẩu so với cùng kỳ năm 2020. Các chủng loại hạt tiêu xuất khẩu chủ yếu sang EU là: mã HS. 09041120 – Hạt tiêu đen chưa xay hoặc chưa nghiền (đạt 92 triệu USD, tăng mạnh 62,5% so với cùng kỳ 2020 và chiếm 55,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu sang EU) và mã HS. 09041110 - Hạt tiêu trắng chưa xay hoặc chưa nghiền (đạt 40 triệu USD, tăng 58,8%, chiếm 24,1%). EU chiếm 19% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong 11 tháng năm 2021. 

Trong số các thị trường thành viên EU, hạt tiêu Việt Nam được xuất chủ yếu sang hai nước Đức (đạt 49 triệu USD) và Hà Lan (đạt 39 triệu USD). Trong thời gian tới, Việt Nam được kỳ vọng sẽ tận dụng cơ hội để phát triển ngành chế biến hồ tiêu khi các nhà đầu tư trong khối EU chuyển nhà máy chế biến về Việt Nam để tận dụng nguyên liệu và nhân công giá rẻ, tạo động lực thúc đẩy xuất khẩu hạt tiêu sang đa dạng các thị trường EU.

6. Gạo 

Trước khi EVFTA có hiệu lực, xuất khẩu gạo của Việt Nam vào thị trường EU bị áp thuế 45%. Thậm chí có một số nước trong khối EU áp mức thuế nhập khẩu với gạo Việt Nam lên tới 100% hoặc cao hơn. Khi EVFTA có hiệu lực, EU dành cho Việt Nam ưu đãi thuế suất 0% với hạn ngạch 80.000 tấn gạo/năm (gồm 30.000 tấn gạo xay xát, 20.000 tấn gạo chưa xay xát và 30.000 tấn gạo thơm). Đặc biệt, EU sẽ tự do hóa hoàn toàn đối với gạo tấm sau 5 năm. Cam kết này giúp Việt Nam có thể xuất khẩu khoảng 100.000 tấn gạo tấm vào EU hàng năm. Ưu đãi từ Hiệp định đang được tận dụng hiệu quả khi xuất khẩu gạo sang EU trong 11 tháng 2021 đạt khoảng 54 nghìn tấn, tương đương 38 triệu USD, chỉ tăng 0,8% về lượng nhưng tăng tới 21,6% về trị giá xuất khẩu so với cùng kỳ năm 2020, cho thấy doanh nghiệp đang bắt kịp xu hướng sản xuất các loại giống chất lượng cao (gạo thơm, gạo hạt dài, gạo đặc sản) hướng tới thị trường cao cấp. Tuy nhập khẩu gạo của EU từ Việt Nam có xu hướng tăng nhưng thị phần gạo của Việt Nam tại EU còn rất thấp, chỉ chiếm 1,3% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong 11 tháng năm 2021. 

Trong số các thị trường thành viên EU, gạo Việt Nam được xuất chủ yếu sang các nước: Đức (đạt 10 triệu USD), Hà Lan (đạt 6 triệu USD), Italy (đạt 6 triệu USD) và Ba Lan (đạt 4 triệu USD). Gạo tuy không phải là thực phẩm chính tại EU, song thị trường này vẫn có nhu cầu nhất định với một số sản phẩm, đặc biệt là các loại gạo dinh dưỡng, tốt cho sức khỏe. Hơn nữa, xu thế sử dụng gạo tại EU gia tăng do sự phổ biến của thức ăn châu Á tại đây. Hiệp định EVFTA đang tạo lợi thế cạnh tranh rất lớn cho gạo Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh lớn vẫn chưa có FTA với EU như Thái Lan, Trung Quốc tại thị trường tiềm năng này. 

7. Chè 

Đối với Hiệp định EVFTA, các nước EU cam kết xóa bỏ thuế quan đối với sản phẩm chè ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Tận dụng ưu đãi từ EVFTA, trong 11 tháng năm 2021, kim ngạch xuất khẩu chè sang EU đạt khoảng 3 triệu USD, tăng 21,6% so với cùng kỳ năm 2020 dù giảm 16,4% về lượng xuất khẩu, cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang chuyển trọng tâm sang xuất khẩu các sản phẩm chè chất lượng cao. Đây là định hướng phù hợp với thị trường EU vì với mức thu nhập khá cao, người tiêu dùng tại đây cần những sản phẩm thương hiệu gắn với chất lượng sản phẩm hơn là giá cả cạnh tranh. Việt Nam là một trong những các quốc gia hàng đầu có sản phẩm chè xanh và chè đen xuất khẩu vào thị trường Châu Âu, tuy nhiên thị phần chè Việt Nam tại thị trường này còn rất hạn chế, sản lượng xuất khẩu chưa cao. Thị trường EU cũng mới chỉ chiếm 1,7% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong 11 tháng năm 2021. 

Trong số các thị trường thành viên EU, chè Việt Nam được xuất chủ yếu sang các nước: Ba Lan (đạt 1 triệu USD), Đức (đạt 601 nghìn USD) và Bỉ (đạt 410 nghìn USD). EU là thị trường tiềm năng và quan trọng của ngành chè Việt Nam với nhiều dư địa tăng trưởng. Tuy nhiên đây cũng là thị trường khó tính với nhiều tiêu chuẩn khắt khe về an toàn vệ sinh thực phẩm, nguồn gốc và chất lượng sản phẩm, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo sản phẩm chất lượng cao để vượt qua các rào cản kỹ thuật của thị trường.

Thời gian tới, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường EU được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh mẽ hơn khi dịch Covid-19 được kiểm soát, EU dần nới lỏng các biện pháp phòng dịch, mở cửa thông thương thuận tiện hơn, các doanh nghiệp xuất khẩu của ta cũng trải qua thời gian thích nghi với các cam kết tại EVFTA đặc biệt là các cam kết về quy tắc xuất xứ. Đây là những tiền đề quan trọng để ngành nông sản của Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị phần tại thị trường các quốc gia châu Âu.

                             PTN - Tổng hợp

Số lượt xem: 17

Thống kê truy cập
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH BẠC LIÊU
Chịu trách nhiệm chính: Giám đốc Sở Công Thương
Địa chỉ: Đường Nguyễn Tất Thành, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: (0291) 3823848 - Fax: (0291) 3824890 
Email: sct@baclieu.gov.vn hoặc trungtamkhuyencongbl@gmail.com