SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3
1
7
3
3
3
8
Tin trong nước Thứ Sáu, 19/07/2019, 11:05

Doanh nghiệp cần biết từ 15 - 19.7.2019

 

Quy định mới đối với những mặt hàng sản xuất tại Mỹ
Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chỉ thị, những sản phẩm phải có hơn 50% sản xuất tại Mỹ mới được coi là hàng sản xuất tại Mỹ (made in America).
Phát biểu tại buổi giới thiệu sản phẩm hàng sản xuất tại Mỹ ở Nhà Trắng, ông Donald Trump nói rằng, trong tương lai hàng hóa được coi là sản xuất tại Mỹ sẽ phải là 75% sản xuất tại Mỹ và đối với những mặt hàng như sắt, thép thì phải là 95%. Hiện tại, ngưỡng được coi là "sản xuất tại Mỹ" là 50%.
Năm nay đánh dấu lần thứ ba Nhà Trắng tổ chức buổi giới thiệu sản phẩm sản xuất tại Mỹ. Tại triển lãm ở Nhà Trắng lần này, các sản phẩm được đưa ra giới thiệu là các mặt hàng tiêu biểu của Mỹ như: xe máy, xe đạp, du thuyền, nhà máy và hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD). Ngoài ra, còn có các mặt hàng nhỏ hơn như: bật lửa, bút và dụng cụ mở chai…/.
 
Việt Nam chiếm lĩnh thị trường cá ngừ đông lạnh Hà Lan
Ở châu Âu, Hà Lan không phải là một nước sản xuất cá ngừ, nhưng lại là một quốc gia trung chuyển lớn. Hà Lan hiện đang là thị trường NK cá ngừ lớn thứ 9 trên thế giới và lớn thứ 6 trong khối EU. Quốc gia này cũng đang là thị trường NK cá ngừ lớn nhất của Việt Nam trong khối EU. Trong 3 năm trở lại đây, XK cá ngừ của Việt Nam sang Hà Lan tăng trưởng liên tục, đặc biệt là các sản phẩm cá ngừ đông lạnh.
Theo số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam, XK cá ngừ của Việt Nam sang thị trường này từ tháng 1 đến tháng 5/2019 đều tăng trưởng tốt so với cùng kỳ, trừ tháng 2 do thời gian nghỉ tết kéo dài, dao động từ 1,2 - 3,2 triệu USD/tháng. Tổng 5 tháng đầu năm 2019 XK cá ngừ của Việt Nam sang Hà Lan tăng gần 60% so với cùng kỳ năm 2018, đạt hơn 12 triệu USD. Trong đó, chủ yếu là nhóm các sản phẩm cá ngừ tươi sống và đông lạnh chiếm 89%. So với cùng kỳ năm trước, XK các sản phẩm thăn/philê cá ngừ đông lạnh (như loin cá ngừ vây vàng đông lạnh, thịt cá ngừ vây vàng cắt lát đông lạnh…) tăng cao nhất 63%, đạt 10,4 triệu USD.
Trong khi đó, Hà Lan đang NK rất nhiều các sản phẩm cá ngừ chế biến đóng hộp mã HS16 từ các nước. Theo số liệu thống kê của Trung tâm thương mại Quốc tế, Hà Lan NK gần 62 triệu USD các sản phẩm này trong quý I/2019, chiếm gần 85% tổng giá trị NK cá ngừ của nước này. Đứng thứ 2 là các sản phẩm thăn/philê cá ngừ đông lạnh mã HS0304, chiếm 13%, đạt 9,3 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2018, NK cá ngừ chế biến đóng hộp mã HS16 của Hà Lan có xu hướng giảm, NK cá ngừ tươi sống đông lạnh tăng.
Nếu như năm ngoái, Việt Nam chỉ là nguồn cung cá ngừ lớn thứ 6 cho thị trường này, nay Việt Nam đang là nguồn cung cá ngừ ngoài khối EU lớn thứ 3 cho thị trường Hà Lan, đồng thời là nguồn cung cá ngừ tươi sống đông lạnh lớn nhất cho thị trường này.
Với lợi thế về FTA, Ecuador tiếp tục chiếm lĩnh thị trường cá ngừ Hà Lan. Hiện Ecuador đang chiếm 23% tổng giá trị NK cá ngừ vào Hà Lan. Tương tự như vậy, việc ký kết thỏa thuận khai thác cá ngừ với EU cũng đang giúp Mauritius, nguồn cung lớn thứ 2, chiếm lĩnh thị trường này. Mauritius hiện đang chiếm 16% tổng kim ngạch NK cá ngừ của Hà Lan. Tuy nhiên, so với quý I/2019, thị phần cá ngừ của Ecuador có xu hướng giảm, trong khi của Mauritius và Việt Nam tăng.
Việc Việt Nam tiến tới ký kết Hiệp định Thương mại tự do với EU đã là động lực thúc đẩy XK cá ngừ của Việt Nam sang thị trường này. Theo cam kết trong EVFTA, EU sẽ xóa bỏ thuế quan cho các sản phẩm cá ngừ tươi sống và đông lạnh (trừ thăn/philê cá ngừ đông lạnh mã HS0304) ngay khi hiệp định có hiệu lực. Đối với các sản phẩm thăn/philê cá ngừ đông lạnh mã HS030487, EU sẽ xóa bỏ thuế quan cho Việt Nam theo lộ trình 3 năm, từ mức thuế cơ bản 18%, ngay khi hiệp định có hiệu lực. Với lợi thế này, các sản phẩm thăn/philê cá ngừ đông lạnh mã HS030487 sẽ tiếp tục giữ vững được vị thế tại thị trường này.
Hơn thế nữa, do Hà Lan hiện đang là trung tâm trung chuyển của EU. Lưu trữ hàng tại cảng Rotterdam có lẽ rẻ hơn như tại Hamburg và vận chuyển tới đến khu chợ lớn nhất của Đức tại Ruhr gần hơn, nên lượng hàng NK vào Hà Lan đang có xu hướng tăng. Do đó, dự báo thời gian tới, XK cá ngừ của Việt Nam sang Hà Lan sẽ tiếp tục khả quan. 
 
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường đối với sản phẩm thủy sản được chứng nhận bởi Hội đồng quản lý nuôi trồng thủy sản (ASC), tổ chức này đã phải phát triển các tiêu chuẩn mới. Năm 2018, ASC đã công bố tiêu chuẩn cho cá mú (Sea bass), cá tráp (Sea bream) và cá Meager (SBSB). Mới đây, ASC đã công bố các tiêu chuẩn cho cá bơn (FF) và cá biển nhiệt đới (TMFF).
Hai tiêu chuẩn mới này bổ sung 16 loài vào chương trình của ASC, cho phép chứng nhận minh bạch của bên thứ ba về số lượng lớn hơn các loài được sản xuất và tiêu thụ trên khắp thế giới.
Năm 2018, tổng sản lượng nuôi cá biển nhiệt đới chiếm gần 3,7 triệu tấn thủy sản nuôi trồng toàn cầu (FAO, SOFIA; 2018). Năm 2016, loài này chiếm khoảng 1,5 triệu tấn. Nuôi trồng cá biển nhiệt đới được phân bố khắp các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới  của châu Á và Australasia với các vùng sản xuất quan trọng như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam.
Tiêu thụ nội địa và giao thương liên khu vực là những nghiên cứu thị trường quan trọng, bên cạnh yêu cầu từ các thị trường tiêu thụ chính gồm Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản và Singapore là những lý do căn bản để hình thành các tiêu chuẩn cho cá biển nhiệt đới.
Sản lượng nuôi các loài theo tiêu chuẩn cá bơn ước tính khoảng 175 - 200.000 tấn (Theo FAO, 2016 và các số liệu thống kê các quốc gia). Trong đó 91% được nuôi ở Trung Quốc và Hàn Quốc, phần lớn sản lượng còn lại được sản xuất ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Nhật Bản (7%). Cá bơn chiếm tỷ lệ quan trọng trong hệ thống bán lẻ cá sống ở Trung Quốc và Hàn Quốc và là loại cá tươi cao cấp ở Nam Âu và Nhật Bản.
ASC phát triển các tiêu chuẩn mới như thế nào?
Chìa khóa để phát triển bất kỳ tiêu chuẩn ASC mới nào cũng là sự tham gia của một loạt các bên liên quan (bao gồm người nuôi, hiệp hội nông dân, các tổ chức phi chính phủ, học giả, công ty cung cấp chuỗi cung ứng, nhà bán lẻ và công ty dịch vụ thực phẩm....) với sự quan tâm đến việc nuôi trồng các loài được chứng nhận. Tất cả các giai đoạn của quá trình phát triển tiêu chuẩn sẽ được giới thiệu trên trang web của ASC từ ấn phẩm gốc về ý định phát triển tiêu chuẩn, thời gian tham vấn Điều khoản tham chiếu (TOR) và phạm vi của tiêu chuẩn cho đến việc công bố dự thảo tham vấn cộng đồng và kết quả lấy ý kiến ​​các bên liên quan. Hai phòng quản trị nhiều bên liên quan của ASC là Nhóm tư vấn kỹ thuật (TAG) và Ban kiểm soát sẽ quản lý tất cả các quy trình trên. Ngoài ra, họ sẽ hướng dẫn phát triển kỹ thuật nội dung và cuối cùng là phê duyệt những tiêu chuẩn đó.
Để phát triển nội dung dự thảo cho các tiêu chuẩn này, tài liệu đã được lấy ra từ các tiêu chuẩn hiện có. Tuy nhiên,những nội dung đã được thông báo được sửa đổi sau đó do kết quả của các lượt truy cập trang web được thực hiện với các bên liên quan chính và các vòng tham vấn cộng đồng. Tất cả các tiêu chuẩn ASC, cả tác động môi trường và xã hội đều được đề cập.
Sự phát triển của Tiêu chuẩn cho cá biển nhiệt đới ASC là một quá trình kéo dài trong nhiều năm. Vào năm 2013, Quỹ bảo vệ thiên nhiên Indonesia (WWF Indonesia) và Chương trình Tam giác San hô của WWF đã khởi xướng một cuộc đối thoại với các bên liên quan để phát triển một tiêu chuẩn cho cá mú (Grouper), cá hồng (Snapper) và cá vược Barrumundi. Vào cuối năm 2016, ASC đã được yêu cầu hoàn thiện quá trình triển khai tiêu chuẩn và mở rộng phạm vi các loài được chứng nhận. ASC đã thực hiện 2 vòng tham vấn cộng đồng 60 ngày, lần lượt vào tháng 5/2017 và tháng 8/2017 với việc tuân thủ Quy tắc thiết lập tiêu chuẩn ISEAL phiên bản 6.0.
Các cuộc họp của các bên liên quan đã thu hút các quốc gia từ Australia, Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Mỹ và Việt Nam. Tất cả các quốc gia đều quan tâm đến việc phát triển một tiêu chuẩn làm giảm những tác động của môi trường và xã hội của các phương thức sản xuất hiện tại. Đại diện của khu vực công (Cục Thủy sản Penang, Cục Thủy sản Pulau Sayak, Cục Thủy sản Singapore, DG Nuôi trồng thủy sản Indonesia, Đại học Nha Trang, Đại học Curtain), khu vực sản xuất (Stanton Emms, GenoMar, Tập đoàn Aquagrow, Hiệp hội Nông dân Malaysia, Hiệp hội Nuôi trồng Thủy sản Penang, Tập đoàn Nuôi trồng Thủy sản Palawan, Công ty CP Vĩnh Hoàn, Tập đoàn Aqua Ceria, Australis, Công nghệ Nuôi trồng Thủy sản châu Á, Thủy sản Philipps, Baramundi Asia, Fin Fisher Pte, Hiệp hội Nông dân Australia Baramundi) và các tổ chức phi chính phủ (WWF Australia, Malaysia, Indonesia, Mỹ và Sáng kiến ​​Toàn cầu Tam giác San hô).
Vào năm 2016, ASC cũng đã khởi xướng một quy trình phát triển tiêu chuẩn cho các loài cá bơn được nuôi thương mại theo Quy tắc thiết lập tiêu chuẩn ISEAL. Điều khoản tham chiếu đã được công bố để thảo luận vào tháng 4/2017 và các cuộc tham vấn cộng đồng đã được tổ chức vào tháng 5 và tháng 8 trong năm đó. Các hoạt động thí điểm mở rộng đã được thực hiện tại các khu vực sản xuất chính. Ở Trung Quốc và Hàn Quốc, việc tiếp cận với chuyên môn kỹ thuật và sản xuất được tạo điều kiện bởi CAPPMA và Hiệp hội các nhà sản xuất cá flatfish đảo Jeju. CAPPMA cũng tổ chức một Ủy ban nghề cá bơn turbot trong phạm vi quản trị của họ, tạo ra một  kênh với tiếng nói chung của hàng ngàn người nuôi cá bơn turbot ở Trung Quốc, đầu vào của người nuôi cũng được xem xét.
Các công ty tham gia Ủy ban nghề cá bơn
Tên công ty
Quốc gia
Loài nuôi
Sogn Aqua
Na Uy
Halibut
Jeju Island flatfish producers
Hàn Quốc
Flounder
Shandong Oriental Ocean
Trung Quốc
Turbot
Huang Hai Aquaculture
Trung Quốc
Turbot
Tian Yuan Aquaculture
Trung Quốc
Turbot
Turbot Commision of China Aquatic Product Processing and Marketing Alliance (CAPPMA)
Trung Quốc
Turbot
Tham vấn cộng đồng
Trong suốt nhiều vòng tham vấn cộng đồng cho các tiêu chuẩn này, ASC đã nhận được những ý kiến ​​quan trọng và thực chất từ ​​các bên liên quan. Trong tổng số 21 tổ chức đã gửi ý kiến ​​về 86 chỉ số khác nhau. Các bên liên quan quan tâm chủ yếu đến 4 nguyên tắc sau trong tiêu chuẩn:
Nguyên tắc 2: Bảo tồn môi trường sống tự nhiên, đa dạng sinh học và cấu trúc hệ sinh thái địa phương.
Nguyên tắc 3: Bảo vệ sự lành mạnh và tính toàn vẹn di truyền của quần thể hoang dã
Nguyên tắc 4: Sử dụng tài nguyên trong môi trường hiệu quả và có trách nhiệm
Nguyên tắc 5: Quản lý dịch bệnh và ký sinh trùng một cách có trách nhiệm với môi trường
Và các chỉ số dưới đây:
Oxy hòa tan
Sự thất thoát
Tỷ lệ phụ thuộc cá thức ăn gia súc (FFDR)
Điều trị bằng chất kháng sinh và chất chống ký sinh trùng
Tiêu chuẩn cho cá bơn (FF) và cá biển nhiệt đới (TMFF) sẽ bắt đầu có hiệu lực trong thời gian 6 tháng; thời gian cho phép các công ty chứng nhận được công nhận bởi ASC làm các quy trình chứng nhận. Trong thời gian này, các trang trại có thể đọc tiêu chuẩn mới được phát hành và sử dụng các tài liệu trên trang web của ASC để xem xét các yêu cầu cần thiết để được chứng nhận và tìm một công ty chứng nhận đủ điều kiện để thực hiện đánh giá theo tiêu chuẩn mới khi hoàn thiện giai đoạn có hiệu lực 6 tháng. Các công ty chứng nhận có thể đánh giá các trang trại trước khi kết thúc thời hạn có hiệu lực nếu họ có đủ chuyên gia đánh giá đủ điều kiện để thực hiện các đánh giá và đã hoàn thành tất cả các thỏa thuận hành chính để quản lý nội bộ các quy trình chứng nhận.
Yêu cầu mới đối với Tiêu chuẩn cá tra của ASC
Phiên bản 1.2 đối với Tiêu chuẩn cá tra ASC được cũng được công bố đồng thời với 2 tiêu chuẩn trên. Phiên bản mới bao gồm các bản sửa đổi đã được hoàn thiện sau nhiều vòng tham vấn cộng đồng và sẽ thực hiện tăng cường bảo vệ vùng đất ngập nước gần trang trại cá tra. Các yêu cầu bao gồm bột cá và dầu cá từ các địa điểm hoặc ngư trường được chứng nhận của IFFO RS hoặc thủy sản có điểm số FishSource thấp hơn (FS) và công khai về cây trồng biến đổi gen và các thành phần có nguồn gốc thực vật trong thức ăn chăn nuôi. Bản sửa đổi cũng có thêm các yêu cầu bổ sung liên quan đến kháng sinh, vì các trại nuôi sẽ phải xác minh tổng lượng của từng hoạt chất kháng sinh được sử dụng trên mỗi tấn cá được sản xuất mỗi năm và tần suất điều trị. Với tất cả các tiêu chuẩn của ASC, các trại nuôi không được phép sử dụng bất kỳ loại kháng sinh nào trong danh mục các loại thuốc đặc biệt quan trọng đối với sức khỏe con người của Tổ chức Y tế thế giới. Giống như 2 tiêu chuẩn mới được phát hành, tiêu chuẩn cá tra cũng sẽ có thời hạn hiệu lực 6 tháng, kết thúc vào ngày 26/12/2019 khi các trang trại sẽ bắt đầu được đánh giá lại theo phiên bản cập nhật của Tiêu chuẩn cá tra ASC.

                                                                 PTN - Tổng hợp


Số lượt người xem: 332 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày