SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3
1
7
3
6
1
4
Tin trong nước Thứ Sáu, 19/07/2019, 11:00

Xuất nhập khẩu từ 15 - 19.7.2019

 

Xuất khẩu gạo: Tìm thị trường mới
Nửa đầu năm 2019, Trung Quốc, Indonesia và Bangladesh - 3 thị trường nhập khẩu gạo lớn đều giảm lượng nhập hàng.
Nhiều chuyên gia lo ngại tình trạng này có thể kéo dài đến cuối năm, làm cho việc xuất khẩu gạo của 3 nước xuất khẩu gạo hàng đầu là Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam rơi vào tình cảnh trầm lắng.
Tuy nhiên, với sự năng động của doanh nghiệp (DN), hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực.
Chuyển dịch cơ cấu thị trường
Số liệu của Tổng cục Hải quan cho thấy, 5 tháng đầu năm 2019, các DN xuất khẩu 2,76 triệu tấn gạo, tương đương 1,18 tỷ USD, so với cùng kỳ năm 2018 thì giảm 6,3% về lượng và giảm 20,4% giá trị.
Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), cho hay xuất khẩu gạo của Việt Nam trong thời gian trên gặp nhiều bất lợi vì thiếu hợp đồng tập trung với khối lượng lớn để dẫn dắt thị trường.
Những thị trường truyền thống từ vừa đến lớn của gạo Việt đều đồng loạt giảm lượng gạo nhập khẩu vì nhiều lý do khác nhau.
Trung Quốc tồn kho rất nhiều và còn trở lại cạnh tranh với các nước xuất khẩu gạo khác (trong đó có Việt Nam) khi xuất khẩu gạo cũ sang các nước châu Phi. Indonesia hoạt động trầm lắng trong mùa bầu cử và Bangladesh đã khôi phục lại sản xuất sau lũ lụt.
Vì vậy, dự báo thị trường vẫn ảm đạm cho cả năm 2019. Điều này tiếp tục là áp lực trong việc tiêu thụ lúa gạo vụ hè thu 2019.
Nhưng Bộ Công thương cũng ghi nhận nhiều DN đã nhanh nhạy nắm bắt sự thay đổi về chính sách nhập khẩu gạo của Chính phủ Philippines. Nhờ mở rộng được thị trường này, nên dù lượng gạo xuất khẩu giảm nhưng không giảm mạnh như một số nước khác.
Những tháng đầu năm cũng ghi nhận sự chuyển dịch về cơ cấu thị trường, cơ cấu chủng loại gạo xuất khẩu, cũng như những nỗ lực tìm kiếm, mở rộng thị trường mới của các DN xuất khẩu gạo Việt Nam.
Gạo Việt Nam đã được xuất khẩu mạnh vào thị trường châu Phi, châu Âu và châu Mỹ, khu vực Trung Đông. Dự báo năm 2019, Iraq nhập khẩu gạo Việt Nam với mức ổn định tầm 300.000 tấn.
Nhiều nước châu Phi đầu năm 2019 đã tăng mạnh nhập khẩu gạo thơm của Việt Nam như Bờ Biển Ngà, Ghana, Nam Phi, Mozambique, Angola.
Ngoài ra, DN có thể tận dụng ưu đãi cho mặt hàng gạo tại các nước đã ký hiệp định thương mại tự do với Việt Nam, các thỏa thuận song phương như hạn ngạch 10.000 tấn/năm với mức thuế 0% vào thị trường của Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU).
Việt Nam cũng vừa đàm phán xong với Hàn Quốc về hạn ngạch xuất khẩu gạo sang nước này với giá tốt.
Việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do EVFTA giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu tạo thêm nhiều cơ hội cho gạo Việt xâm nhập thị trường này trong thời gian tới.
Điều chỉnh diện tích và lịch thời vụ
Theo Sở Công thương tỉnh Long An, khó khăn hiện nay trong xuất khẩu gạo và tiêu thụ lúa trong nước là cung nhiều hơn cầu.
Dự báo nhu cầu thị trường nhập khẩu gạo Việt Nam khoảng 5 triệu tấn, nhưng năng lực sản xuất của chúng ta tới 7 triệu tấn.
Do vậy, Bộ NN-PTNT và các địa phương phải ngồi lại tính toán để xem sản xuất lúa bao nhiêu là phù hợp. Diện tích đất lúa cần 3,8 triệu ha hay 2,5 triệu ha?
Đồng thời cũng phải xem xét lại lịch thời vụ. Trước nay, gieo sạ đồng loạt để hạn chế dịch bệnh, nay nên sắp xếp lịch thời vụ sao cho hợp lý, phù hợp thị trường. Nếu gieo sạ đồng loạt sẽ tạo áp lực về kho dự trữ, lò sấy…
Theo UBND tỉnh Đồng Tháp, đặt vấn đề cần xem lại mặt hàng lúa gạo có còn là chiến lược xuất khẩu của quốc gia, khi mà kim ngạch xuất khẩu thua thủy sản và rau quả.
Hàng loạt địa phương đã cho chuyển từ trồng lúa sang nuôi thủy sản và trồng cây ăn trái.
Còn theo Bộ Công Thương, trong bối cảnh thị trường diễn biến bất lợi, các DN cần đồng hành cùng Nhà nước tháo gỡ khó khăn.
Trong ngắn hạn, Bộ Công Thương xây dựng cơ chế mang tính ổn định, tạo điều kiện cho DN mua lúa gạo của nông dân.
Song song đó, nhiều bộ phải phối hợp cập nhật thông tin về thị trường để giúp DN có cái nhìn tổng quan và nắm bắt được thị trường.
Bộ Công Thương và Bộ NN-PTNT sẽ phối hợp đưa ra cơ chế cho phát triển ngành gạo cụ thể và sẽ báo cáo Chính phủ có chính sách phát triển hợp lý.
Các DN cần phối hợp với Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) xây dựng thương hiệu, bao bì, nhãn mác.
Trong đó, bản thân từng DN phải tự kiểm soát chất lượng, giữ vững uy tín, tránh tình trạng phá vỡ hợp đồng gây ảnh hưởng đến thương hiệu gạo Việt Nam, đồng thời nâng cao năng lực quản trị để tìm kiếm thị trường mới.
 
Xuất khẩu rau quả đã đạt một nửa mục tiêu
Năm nay, mục tiêu đề ra cho xuất khẩu rau quả là 4,2 tỷ USD. 6 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu rau quả đã đạt được một nửa mục tiêu này.
Theo ước tính của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), xuất khẩu hàng rau quả tháng 6/2019 đạt 320 triệu USD. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 6/2019, xuất khẩu hàng rau quả ước đạt 2,08 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2018. Như vậy, xuất khẩu rau quả 6 tháng qua đã cơ bản đạt được một nửa mục tiêu 4,2 tỷ USD của năm 2019.
Ấn tượng nhất trong xuất khẩu rau quả nửa đầu năm nay là xuất khẩu quả măng cụt. Theo Tổng cục Hải quan, trong 5 tháng đầu ăm 2019, xuất khẩu măng cụt đạt 140,4 triệu USD, tăng tới 146,1% so với cùng kỳ năm 2018. Đây là 1 trong những mặt hàng trái cây xuất khẩu chính đạt tốc độ tăng trưởng mạnh nhất trong 5 tháng đầu năm.
Một trong những nguyên nhân quan trọng giúp cho xuất khẩu măng cụt tăng trưởng mạnh là cuối tháng 4/2019, Trung Quốc đã cấp phép nhập khẩu chính ngạch cho măng cụt Việt Nam. Đây là loại trái cây thứ 9 của Việt Nam được xuất khẩu chính ngạch vào thị trường Trung Quốc (sau thanh long, vải, dưa hấu, nhãn, chuối, xoài, mít và chôm chôm).
Xuất khẩu xoài cũng tăng trưởng khá so với cùng kỳ 2018. Tháng 5/2019, xuất khẩu xoài tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước (tăng 71,4%) và đạt 34,3 triệu USD. Tính ra, trong 5 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu xoài đạt 136 triệu USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2018. Một trong những nguyên nhân quan trọng giúp cho xuất khẩu xoài tăng mạnh trong tháng 5 là do xoài đã chính thức trở thành loại quả tươi thứ 6 của Việt Nam được phép xuất khẩu sang thị trường Mỹ sau vải, nhãn, chôm chôm, vú sữa và thanh long. Bởi theo ông Nguyễn Đình Tùng, TGĐ Vina T&T, Việt Nam mới bắt đầu xuất khẩu xoài sang Mỹ nhưng những tín hiệu từ thị trường này đã vượt quá mong đợi của các doanh nghiệp Việt Nam.
Trong thời gian tới, xuất khẩu xoài sẽ tiếp tục khả quan do đã được đón nhận ở thị trường Mỹ. Quan trọng hơn, việc xoài được xuất khẩu vào thị trường Mỹ là cơ hội để xoài của Việt Nam có thể xuất khẩu sang nhiều thị trường khó tính khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc…
Một số loại trái cây khác cũng đạt mức tăng trưởng rất cao về xuất khẩu trong trong 5 tháng đầu năm, qua đó góp phần không nhỏ vào tăng trưởng xuất khẩu rau quả. Cụ thể: vải đạt 7,75 triệu USD, tăng 328,7%; chuối đạt 85,6 triệu USD, tăng 93,1%; mít đạt 45,5 triệu USD, tăng 61,9%…
Trong khi đó, dù chỉ tăng trưởng nhẹ về giá trị xuất khẩu, nhưng thanh long vẫn tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu rau quả Việt Nam. Trong 5 tháng đầu năm nay, xuất khẩu thanh long đã đạt 554,256 triệu USD, tăng 3,7% so cùng kỳ 2018. Với giá trị xuất khẩu như trên, thanh long đang chiếm 40,2% tổng giá trị xuất khẩu của nhóm hàng quả và quả hạch.
Về các nhóm hàng xuất khẩu chính của mặt hàng rau quả, nhóm quả và quả hạch vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất khi đạt 1,379 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm. Tiếp đó là các sản phẩm rau quả chế biến khi đạt 233,882 triệu USD; nhóm rau củ đứng thứ 3 với 147,63 triệu USD; hoa đạt 18,423 triệu USD.
Về thị trường, Trung Quốc vẫn là thị trường số 1 của rau quả Việt Nam khi đạt 1,279 triệu USD trong 5 tháng đầu năm (tăng 2,98%) và chiếm 72,6% tổng giá trị rau quả xuất khẩu. Một điều đáng chú ý là trong tháng 5, xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc đã sụt giảm mạnh so với tháng 4 (giảm 32,7%) và giảm 4% so với tháng 5/2018.
Nguyên nhân chính là do từ 1/5, hải quan Trung Quốc thực hiện một số quy định mới với rau quả nhập khẩu từ Việt Nam như: không cho phép dưa hấu lót rơm thông quan; yêu cầu dùng xốp lưới hoặc chất liệu không có sinh vật gây hại để bọc trái dưa hấu; yêu cầu dùng giấy dai Kraft để bọc hoặc dùng bao bì là thùng giấy có in thông tin truy xuất nguồn gốc đối với mít; yêu cầu bao bì là thùng giấy hoặc túi nhựa để bọc (đều phải in mã và thông tin truy xuất nguồn gốc) đối với chuối… Nhiều doanh nghiệp Việt Nam do chậm thích ứng với những quy định mới, do đó đã ảnh hưởng ít nhiều tới xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc.
Các thị trường đứng sau Trung Quốc trong Top 5 thị trường lớn nhất của rau quả Việt Nam là Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản và Hà Lan, đều tăng trưởng trong 5 tháng đầu năm.
Cụ thể: Mỹ đạt 58,46 triệu USD (tăng 14,8%); Hàn Quốc đạt 55,293 triệu USD (tăng 18,81%); Nhật Bản đạt 49,956 triệu USD (tăng 6,95%); Hà Lan đạt 31,162 triệu USD (tăng 35,82%).
 
Mặc dù xuất khẩu cá tra sang thị trường Đức giảm theo xu hướng chung của toàn khu vực EU trong hơn 10 năm từ 2008 - 2018, nhưng trong mấy năm gần đây, đặc biệt là trong 5 tháng đầu năm 2019, giá trị XK cá tra sang thị trường Đức liên tục tăng. Riêng tháng 5/2019, giá trị XK cá tra sang thị trường này tăng mạnh: 144,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến hết tháng 5/2019, giá trị XK cá tra Việt Nam XK sang Đức đạt 14,7 triệu USD, tăng 74,6% so với cùng kỳ năm 2018.
Có thể nói, Đức là một trong những thị trường NK cá tra giá cao ở EU. Theo thống kê của ITC, 4 tháng đầu năm 2019, giá NK trung bình sản phẩm cá tra philê đông lạnh (HS 030462) dao động ở mức từ 3,5 - 3,96 USD/kg.
Hiện nay, có khoảng 15 doanh nghiệp XK cá tra sang thị trường Đức, trong đó phần lớn tập trung tại hai địa phương là Đồng Tháp và Cần Thơ. Cá tra phile đông lạnh là sản phẩm XK chiếm tỷ trọng hơn 90% trong cơ cấu XK cá tra của các DN sang thị trường Đức.
Ngoài ra, một số sản phẩm khác như: cá tra cắt khúc đông lạnh, cá tra cuộn hoa hồng đông lạnh... Riêng tháng 5/2019, các DN XK 100% sản phẩm cá tra phile đông lạnh sang thị trường Đức thông qua hai cảng NK chính là Harmburg và Bremerhaven.
Tuy nhiên, cho tới nay, có một điều đáng tiếc rằng, phần lớn sản phẩm cá tra XK sang Đức ở dạng phile đông lạnh, do đó giá xuất khẩu thấp: thấp nhất ở mức từ 0,9 - 1,7 USD/kg (FOB); cao nhất ở mức 3,6 - 4,25 USD/kg. Như vậy, sản phẩm cá tra Việt Nam XK sang thị trường Đức vẫn dừng lại ở một vài nhóm sản phẩm nghèo nàn và không đa dạng so với thị trường khác trong khối là Hà Lan. Điều đáng mừng là, trong nửa đầu năm nay, nhu cầu NK cá tra từ Việt Nam của Đức tăng đều và giá NK tương đối ổn định. Trong quý cuối năm, các DN có thể tiếp tục đẩy mạnh XK sang thị trường này.
 
Xuất khẩu tôm bao bột Việt Nam qua Mỹ tăng
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), cho biết, trong 5 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu tôm bao bột từ Việt Nam qua Mỹ đạt 4.281 tấn, trị giá 30,9 triệu USD, tăng 53% về khối lượng và 48% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.
Thị trường cung cấp tôm bao bột của Mỹ gồm 3 nguồn cung là Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam. Trong đó, Trung Quốc chi phí sản xuất thấp nhưng đang phải chịu thuế 25% do Mỹ áp với 200 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc từ hồi tháng 5-2019, dẫn tới sản lượng tôm bao bột cung cấp cho Mỹ sụt giảm mạnh. Tôm bao bột của Thái Lan xuất khẩu với giá cao do chi phí sản xuất cao.
Để giành thị phần từ Trung Quốc và Thái Lan, theo VASEP, Việt Nam cần đầu tư dây chuyền sản xuất, cho ra sản phẩm có giá cạnh tranh. Tôm bao bột là mặt hàng có giá trị gia tăng tốt, tỉ suất lợi nhuận cao cộng với lực lượng lao động tỉ mỉ, cần mẫn, tập trung xuất khẩu tôm bao bột sang Mỹ có thể là một kế hoạch hợp lý cho doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới.

                                                          PTN - Tổng hợp


Số lượt người xem: 298 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày