SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
5
3
1
4
3
0
Tin quốc tế Thứ Sáu, 06/09/2019, 15:25

Tin thế giới từ 03 - 06.9.2019

 

Giá tôm đông lạnh Việt Nam cao nhất tại Nhật Bản
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản (VASEP), giá tôm nguyên liệu đông lạnh của Việt Nam cao nhất trong số các nguồn cung chính với hơn 11 USD/kg trong nửa đầu năm nay.
Tăng trưởng ổn định 3 tháng liên tiếp
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản (VASEP), sau khi tăng trưởng không ổn định trong 4 tháng đầu năm, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Nhật Bản tăng trưởng ổn định trong 3 tháng 5, 6 và 7 mặc dù mức tăng không nhiều.
Tháng 7, xuất khẩu tôm sang thị trường này đạt gần 56 triệu USD, tăng 2,2%. Do giảm mạnh trong tháng 1 và 4 nên 7 tháng đầu năm nay, xuất khẩu tôm sang Nhật vẫn giảm 2,8% xuống gần 329 triệu USD.
Nhật Bản duy trì là thị trường nhập khẩu tôm lớn thứ hai của Việt Nam trong nửa đầu năm nay. Nhờ những lợi thế từ các Hiệp định Thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản. Do đó, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Nhật Bản 7 tháng đầu năm nay không giảm sâu như các thị trường chính khác.
Trong cơ cấu các sản phẩm tôm Việt xuất sang Nhật, tôm chân trắng chiếm tỷ lệ cao nhất 58,1%; tôm sú chiếm 22,4%; còn lại tôm biển chiếm 19,5%; trong số các sản phẩm tôm chân trắng xuất đi Nhật, tôm chân trắng sống/tươi/đông lạnh chiếm tỷ lệ cao hơn tôm chân trắng chế biến.
7 tháng đầu năm nay, xuất khẩu tôm chân trắng sống/tươi/đông lạnh của Việt Nam sang Nhật Bản giảm hơn 10% trong khi xuất khẩu tôm chân trắng chế biến tăng hơn 2% so với cùng kì năm ngoái. Một số sản phẩm tôm của Việt Nam được ưa chuộng tại Nhật Bản bao gồm tôm Nobashi, sushi, tôm sú Tempura áo bột; tôm chân trắng PD đông lạnh, tôm chân trắng lột vỏ bỏ đầu chừa đuôi đông lạnh...
Lợi thế từ các FTA
Theo Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), Việt Nam vẫn là nguồn cung tôm lớn nhất cho Nhật Bản, chiếm 26% tổng giá trị nhập khẩu tôm của thị trường này.
Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ là các nguồn cung chính tiếp theo, lần lượt chiếm 19%, 17% và 10%. Nửa đầu năm nay, nhập khẩu tôm của Nhật từ top 5 nguồn cung chính đều giảm so với cùng kì năm ngoái.
Tôm nguyên liệu đông lạnh là sản phẩm chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng cơ cấu tôm nhập khẩu vào Nhật Bản, chiếm trên 60%.
Xét về thuế nhập khẩu đối với sản phẩm tôm này, Việt Nam và các nguồn cung chính khác cho Nhật (Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan) đều hưởng mức thuế 0%.
Xét về giá, giá tôm nguyên liệu đông lạnh của Việt Nam cao nhất trong số các nguồn cung chính với hơn 11 USD/kg trong nửa đầu năm nay. Giá tôm Indonesia xuất khẩu vào Nhật Bản đạt 11 USD/kg, giá tôm Thái Lan đạt 9,5 USD/kg và Ấn Độ đạt 9 USD/kg.
Hiệp định Thương mại tự do giữa ASEAN và Nhật Bản (AJCEP) có hiệu lực từ 1/12/2008 và Hiệp định Thương mại tự do song phương giữa Việt Nam và Nhật Bản (VJEPA) có hiệu lực từ 1/10/2009 đã giúp tạo điều kiện thuận lợi về thuế quan cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Nhật Bản.
VASEP nhận định bên cạnh các Hiệp định FTA Việt Nam - Nhật Bản và ASEAN - Nhật Bản, Hiệp định CPTPP có hiệu lực từ tháng 1/2019 cũng sẽ một lần nữa giúp cho tôm Việt Nam gia tăng lợi thế tại thị trường này.
Theo các cam kết của Nhật Bản tại CPTPP, đa số mặt hàng thủy sản có thế mạnh của Việt Nam trong đó có tôm đông lạnh và tôm chế biến được hưởng thuế suất 0% ngay sau khi hiệp định có hiệu lực.
Do ngành kinh doanh thực phẩm ăn sẵn của Nhật Bản phát triển, các sản phẩm tôm chế biến sẵn với tính tiện dụng cao sẽ tăng trưởng tốt tại thị trường Nhật Bản.
 
Dự báo xuất khẩu gạo của Ấn Độ năm 2019-2020 sẽ xuống mức thấp nhất trong vòng 7 năm qua
Xuất khẩu gạo Ấn Độ trong năm 2019-2020 có thể đạt mức thấp trong 7 năm trở lại đây, do nhu cầu yếu, giá lúa nguyên liệu ở trong nước tăng cao và việc chính phủ ngừng các chính sách hỗ trợ cho các nhà xuất khẩu gạo Ấn Độ.
Ông Nitin Gupta, Phó Chủ tịch của Olam India – công ty xuất khẩu gạo hàng đầu Ấn Độ cho biết, Ấn Độ có thể xuất khẩu được từ 10 - 11 triệu tấn gạo trong năm tài chính 2019- 2020 so với mức 11,95 triệu tấn trong năm 2018-2019 (vốn đã giảm 7,2% so với năm 2017-2018). Nhu cầu gạo của châu Phi đang yếu do lượng gạo tồn kho của khu vực này lớn, ngoài ra TQ đang đẩy mạnh việc thanh lý lượng gạo cũ tồn kho, với mức giá cạnh tranh hơn nhiều so với gạo Ấn Độ mà chủ yếu xuất sang châu Phi.
Theo số liệu của Cơ quan Phát triển Xuất khẩu Sản phẩm Nông sản và Thực phẩm Chế biến (APEDA), xuất khẩu gạo của Ấn Độ trong tháng 4-5/2019 đã giảm 30% so với cùng kỳ năm trước, chỉ đạt 1,58 triệu tấn, trong đó xuất khẩu gạo Phi Basmati giảm 50% so với cùng kỳ năm trước, chỉ đạt 711.837 tấn.
Ấn Độ hiện đang xuất khẩu gạo Phi Basmati chủ yếu sang Bangladesh, Nepal, Benin, Senegal… và gạo Basmati sang Iran, Saudi Arabi, Iraq… Tuy nhiên, Ấn Độ đang phải cạnh tranh lớn với Pakistan trong xuất khẩu gạo Basmtai và với Thái Lan, Việt Nam và Myanmar trong xuất khẩu gạo Phi Basmati. Ông Gupta cho biết, Ấn Độ đang mất dần các đơn hàng gạo Phi Basmati vào tay VN, Thái Lan và Myanmar do không có khả năng cạnh tranh về giá. Giá gạo trắng của VN và Myanmar đang chào bán thấp hơn 30 USD/tấn so với gạo Ấn Độ. Trong khi đó, ông Himanshu Agarwal, Giám đốc điều hành của Satyam Balajee (một nhà xuất khẩu gạo lớn nhất của Ấn Độ) cũng cho biết, gạo đồ của Ấn Độ cũng đang phải trật vật cạnh tranh với gạo đồ Thái Lan, tuy nhiên gạo Ấn Độ không thể giảm giá thêm được nữa do chính phủ liên tục tăng giá MSP đối với lúa nguyên liệu, thậm chí chính quyền bang Chhattisgarh (bang sản xuất gạo hàng đầu Ấn Độ) còn tăng giá MSP lên cao hơn mức qui định của chính quyền trung ương, ở mức 2.500 rupi/tạ (36,20 USD) trong năm 2018, tăng 43% so với mức 1.750 rupi/tạ của chính quyền trung ương.
Ông B V Krishna Rao, Chủ tịch Hiệp hội các nhà xuất khẩu gạo (REA) cho cũng nhận định nếu chính phủ Ấn Độ không khôi phục lại các ưu đãi xuất khẩu đối với gạo Phi Basmati (đã tạm ngừng từ 25/3/2019) thì xuất khẩu gạo sẽ bị sụt giảm mạnh trong năm nay.
 
Lúa gạo thế giới: Giá tăng tại Ấn Độ, vững ở Thái Lan và Việt Nam
Giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ tuần này tăng do nhu cầu mạnh từ khách hàng nước ngoài và lo ngại sản lượng vụ Hè sẽ giảm do thiếu nước, trong khi đó giá gạo Thái Lan tăng do biến động tỷ giá.
Tại Ấn Độ, nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, giá gạo đồ 5% tấm tuần này đạt 374 – 378 USD/tấn, so với 372 – 375 USD/tấn tuần trước. Sản lượng gạo ở các bang như West Bengal và Andhra Pradesh dự báo sẽ giảm do thiếu mưa.
Lượng mưa ở Ấn Độ trong tuần tới 28/8 thấp hơn 14% so với thông thường, theo số liệu từ cơ quan khí tượng của nước này (IMD).
Tại nước láng giềng của Ấn Độ là Bangladesh, Bộ trưởng Nông nghiệp Abdur Razzaque cho biết Chính phủ đang xem xét đưa ra các chương trình khuyến khích xuất khẩu gạo bởi từ khi xóa bỏ lệnh cấm xuất khẩu gạo thì vẫn chưa ký được hợp đồng nào do giá không cạnh tranh.
Tại Thái Lan, gạo 5% tấm giá hiện 410 – 430 USD/tấn, so với 415 – 430 USD/tấn tuần trước. Đồng baht mạnh lên giữ cho giá gạo Thái ở mức cao giữa lúc nguồn cung không nhiều vì hạn hán nghiêm trọng nhất trong vòng 1 thập kỷ.
Chính phủ Thái Lan tuần này thông báo dành 21 tỷ baht (682 triệu USD) trợ cấp để giúp cho những người nông dân bị ảnh hưởng bởi hạn hán và đồng baht tăng giá.
Đặc biệt, giá gạo nếp ở Thái Lan đã tăng lên mức cao nhất trong lịch sử, do hạn hán làm giảm năng suất. Gạo nếp hiện được bán với giá 50.000 baht/tấn trong khi gạo thơm Hom Mali giá 35.000 baht. Như vậy, giá gạo nếp đã tăng gấp đôi so với cách đây không lâu.
Trong bối cảnh này, Chính phủ Thái Lan đã phải ra lệnh cấm việc đầu cơ tích trữ gạo nếp.
Tại Việt Nam, gạo 5% tấm giá vững ở mức 335-340 USD/tấn, trong bối cảnh giao dịch trầm lắng.
Số liệu sơ bộ cho thấy sẽ có khoảng 29.600 tấn gạo được bốc xếp ở cảng TP HCM trong 10 ngày đầu tháng 9/2019, trong đó 23.000 tấn sẽ tới Tây Phi, phần còn lại tới Philippines.
Theo số liệu của Chính phủ, cả nước đã xuất khẩu 4,53 triệu tấn gạo trong 8 tháng đầu năm 2019, không thay đổi so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu riêng trong tháng 8/2019 đạt 580.000 tấn, so với 598.619 tấn tháng 7/2019.
Một số thông tin liên quan
Trung Quốc. Sản lượng gạo vụ thứ nhất trong năm 2019 dự báo giảm do diện tích và năng suất đều thấp hơn cùng vụ năm ngoái. Cụ thể, theo Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS), quốc gia châu Á đã sản xuất 26,27 triệu tấn gạo sớm (trồng vào mùa Xuân và thu hoạch vào đầu mùa Hè), giảm 8,1% so với một năm trước đó. Diện tích trồng lúa sớm giảm 7,1% xuống 4,45 triệu ha và năng suất trên mỗi ha giảm 1,1% xuống còn 5,9 tấn.
Thái Lan. Ngày 27/8/2019, Nội các Thái Lan đã thông qua gói ngân sách 34,8 tỷ baht (THB - hơn 1 tỷ USD) để đảm bảo giá gạo và dầu cọ ở mức hợp lý đối với người nông dân, trong đó ngân sách dành cho ngành lúa gạo là 21,5 tỷ THB sẽ được giải ngân cho 892.000 hộ nông dân đã đăng ký với Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã của Thái Lan.

                                                      PTN - Tổng hợp


Số lượt người xem: 9 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày