SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
5
7
3
9
9
6
Tin quốc tế Thứ Sáu, 03/05/2019, 09:15

Tin thế giới từ 29.4 - 03.5.2019

 

Thị trường lúa gạo Châu Á: Giá tăng ở Việt Nam, giảm ở Ấn Độ và vững ở Thái Lan
Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng tuần đầu tiên trong vòng 6 tuần do nhu cầu gia tăng trên thị trường nội địa và lo ngại khô hạn ở khu vực sản xuất lúa chính, trong khi đó giá tại các trung tâm xuất khẩu khác ở Châu Á giảm do nội tệ yếu đi.
Tại Việt Nam, gạo 5% tấm giá tăng lên 360 – 370 USD/tấn, từ mức 360 USD/tấn kéo dài suốt nhiều tuần trước đó.
“Nhu cầu mua gia tăng và các nhà xuất khẩu đang cố gắng thu gom gạo để thực hiện những hợp đồng đã ký từ hồi đầu năm”, Reuters dẫn lời một thương gia ở TP HCM cho biết.
Giá gạo tăng cũng bởi các tỉnh ĐBSCL đang bị khô hạn trúng thời điểm nông dân bắt đầu gieo trồng lúa vụ Hè Thu.
Tại Ấn Độ, gạo đồ 5% tấm giá giảm xuống khoảng 375-378 USD/tấn, từ mức 377-380 USD/tấn cách đây một tuần.
“Nhu cầu từ khách hàng Châu Phi và Châu Á đều yếu, mặc dù giá đã giảm”, Reuters dẫn lời một nhà xuất khẩu ở Kakinada thuộc bang Andhra Pradesh (miền Nam Ấn Độ) cho biết.
Trung Quốc đang tích cực bán gạo dự trữ từ những vụ trước cho khách hàng Châu Phi và điều này càng khiến giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ bị cạnh tranh mạnh hơn. Đồng rupee đã giảm xuống mức thấp nhất 7 tuần so với USD vào ngày 25/5/2019 cũng góp phần gây áp lực lên giá gạo xuất khẩu.
Xuất khẩu gạo Ấn Độ giai đoạn tháng 4 /2018 – 2/2019 giảm 9,4% so với cùng kỳ năm ngoái, xuống 10,57 triệu tấn, do khách hàng Bangladesh giảm mua bởi trong nước được mùa.
Trong khi đó, do giá giảm, Chính phủ Bangladesh đang xem xét xóa bỏ lệnh cấm xuất khẩu gạo. Nước này cấm xuất khẩu một số loại gạo thường từ tháng 5/2018, và đến cuối năm 2018 cấm xuất tất cả các loại gạo.
Gạo 5% tấm của Thái Lan giá hiện ở mức 385 – 388 USD/tấn, FOB Bangkok, so với 390 – 411 USD/tấn cách đây một tuần, chủ yếu do đồng baht yếu đi so với USD.
“Mặc dù giá giảm song gạo Thái Lan vẫn khó cạnh tranh với các nước xuất khẩu khác như Ấn Độ hay Việt Nam”, Reuters dẫn lời một thương gia ở Bangkok cho biết.
Tuy nhiên, nước này năm nay có thể bị hạn hán nên các nhà kinh doanh lúa gạo vẫn lo ngại thiếu hụt nguồn cung mặt hàng này.
Một số thông tin lúa gạo khác
Campuchia xem xét khiếu nại quyết định áp thuế gạo của EU
Theo Bộ Thương mại Campuchia, nước này đang thảo luận với các chuyên gia pháp lý về việc có nên khiếu nại chống lại quyết định của Liên minh châu Âu (EU) về việc áp thuế nhập khẩu đối với gạo Indica của hay không.
Hãng tin Reuters ngày 11/4/2019 đưa tin Campuchia đã đệ trình một đơn phản đối lên Tòa án Công lý châu Âu về việc Liên minh châu Âu (EU) áp thuế nhập khẩu đối với gạo của nước này.
EU áp thuế quan trong thời hạn 3 năm liên tiếp (kể từ tháng 1/2019) đối với gạo xuất khẩu từ Campuchia và Myanmar như một biện pháp bảo vệ các nhà sản xuất trong khối, chẳng hạn như Italia, sau khi phát hiện ra gạo Indica nhập khẩu từ Campuchia và Myanmar đã tăng 89% trong 5 mùa vụ vừa qua. Đồng thời, nhập khẩu gạo giá rẻ cũng tăng mạnh làm giảm thị phần của các nhà sản xuất EU tại Châu Âu từ 61% xuống 29%.
Gạo Indica từ hai nước trên phải chịu mức thuế 175 EUR (tương đương 197,31 USD)/tấn trong năm đầu tiên, giảm xuống 150 EUR trong năm thứ hai và 125 EUR trong năm thứ ba.
Myanmar đổ lỗi cho công ty Singapore về thiệt hại của ngành gạo
Vietnambiz đưa tin, các nhà kinh doanh gạo của Myanmar đang đổ lỗi cho Olam International - Tập đoàn sản suất các sản phẩm nông sản hàng đầu thế giới, có trụ sở chính tại Sinhgapore – vì gây thiệt hại cho danh tiếng của ngành lúa gạo nước này. "Chúng tôi sẽ thành lập một nhóm làmviệc và gặp gỡ các quan chức liên quan của Olam để xem có thể làm gì để khắc phục tình hình", ông U Aung Soe, Thư kí thường trực của Bộ Thương mại Myanmar (MOC), phát biểu tại buổi gặp mặt giữa các công ty xuất khẩu gạo địa phương và cơ quan chính phủ có liên quan tại Nay Pyi Taw trong ngày 22/4/2019. Olam đã không có mặt tại cuộc họp.
Tháng 9 năm ngoái, ba công ty Myanmar đã bán hơn 20.000 tấn gạo cho Olam. Số gạo này được Olam vận chuyển trên tàu chở hàng MV Ocean Prince đến Guinea, Tây Phi, nơi gạo được Công ty phân phối lại cho các thị trường trên khắp Châu Phi, theo Myanmar Times.
Ngày 17/4/2019, các phương tiện truyền thông quốc tế đưa tin rằng Bờ Biển Ngà đã hủy 18.000 tấn gạo từ Myanmar sau khi các quan chức y tế tuyên bố lô gạo không đáp ứng tiêu chuẩn làm lương thực cho người. Theo ông U Aung Soe, số gạo từ Myanmar bị hư hại do điều kiện vận chuyển kém, bị thiệt hại do mưa. "Hành trình dài từ Myanmar đến châu Phi cũng làm giảm chất lượng hàng hóa khi bị chính quyền Bờ Biển Ngà kiểm tra, khiến họ hủy toàn bộ lô hàng", ông nói. Các quan chức MOC lo ngại thiệt hại gây ra cho danh tiếng của đất nước có thể ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu gạo trong tương lai.
Gạo đặc sản Philippines tìm kiếm cơ hội tại Nhật Bản
Philippines đang yêu cầu Nhật Bản mở cửa thị trường gạo đặc sản như một phần của các cuộc đàm phán một hiệp định thương mại song phương hoàn thiện. Ceferino Rodolfo, một thành viên của ủy ban Philippines trong Hiệp định đối tác kinh tế Philippines - Nhật Bản (PJEPA), cho biết Manila sẽ cố gắng thuyết phục Nhật Bản mở cửa thị trường cho xuất khẩu gạo đặc sản của Philippines.
 
Triển vọng ngành cá tra Trung Quốc
Một trong những công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi lớn nhất Trung Quốc đánh giá ngành cá tra Trung Quốc sẽ lặp lại thành công của nghề nuôi tôm càng, tạo ra nhiều cơ hội cho thị trường nội địa.
Chen Dan, Chủ tịch của Tập đoàn Evergreen tỉnh Quảng Đông cho biết ông rất lạc quan về triển vọng của ngành cá tra trong năm nay và đây sẽ là một sản phẩm thành công giống như tôm càng.
Theo báo cáo của phương tiện truyền thông địa phương, năm ngoái Trung Quốc đã sản xuất 30.000 tấn cá tra trong khi ông Chen ước tính sản lượng ở mức 25.000 tấn. Con số này so sánh với ước tính sản lượng tôm càng xanh của Trung Quốc trong năm 2017 là 1,12 triệu tấn (số liệu của Bộ Nông nghiệp Trung Quốc).
Việc chuyển đổi nuôi cá tra từ ao sang trang trại diễn ra một cách nhanh chóng được thúc đẩy bởi năng suất và lợi nhuận cao hơn so với cá rô phi, một loại cá thịt trắng được nuôi rộng rãi ở miền nam Trung Quốc, ông Chen cho biết.
Cá rô phi được sản xuất cho thị trường xuất khẩu với mật độ nuôi tương đối thấp, tỉ lệ tử vong cao trong thời tiết nóng và nguy cơ chết do thiếu oxy cao hơn. Việc nuôi cá tra có nhiều lợi thế hơn vì nó được sản xuất chủ yếu cho thị trường trong nước và đem lại sản lượng cao.
Ông Chen cho biết người nông dân nuôi cá rô phi có thể thu hoạch 1.500 - 2.500 kg/mu mỗi vụ trong khi năng suất cá tra đạt gần 5.000kg/mu (1mu = 666,7 m2).
Ngoài ra, ông lưu ý nông dân có thể kiếm được 5.000 - 10.000 nhân dân tệ/mu (745 - 1.490 USD/mu) từ việc nuôi cá tra so với 1.500 - 3.000 nhân dân tệ/mu đối với cá rô phi. Ông cho biết chi phí sản xuất tương đối giống nhau, khoảng 3,50 nhân dân tệ/kg.
Tại Hội nghị phát triển ngành công nghiệp cá tra Trung - Việt lần thứ II tại Vũ Hán vào ngày 28/3, ông Chen cho biết thị trường cá tra Trung Quốc hiện lớn nhất thế giới.
"Cá tra là loại thủy sản được chế biến thành rất nhiều món ăn Trung Quốc. Nó có lợi thế về giá cả, chất lượng thịt tốt hơn, sản phẩm đặc biệt phù hợp với người tiêu dùng Trung Quốc. Đây là một sản phẩm hấp dẫn".
Ông ước tính trong thời kỉ đỉnh cao sản xuất, Trung Quốc sẽ tăng gấp 3 lần sản lượng sản phẩm cá tra chế biến vào năm 2019, từ 30 tấn mỗi ngày lên 90 tấn mỗi ngày.
Ông thừa nhận mức sản xuất này vẫn thua xa Việt Nam. Năm ngoái, giá trị cá tra nhập khẩu của Trung Quốc từ Việt Nam đạt 529 triệu USD.
Năng suất cá tra của Việt Nam trên mỗi mu cao hơn nhiều so với năng suất của các trang trại Trung Quốc.
"Điều này là do khí hậu Việt Nam, cơ sở hạ tầng được thiết lập tốt và có sẵn cá giống phù hợp với điều kiện môi trường của Việt Nam". Hơn nữa lưu lượng nước của sông Mê Kông chảy nhanh đảm bảo dòng nước tốt trong các ao và trang trại.
Tuy nhiên người dân Trung Quốc được hưởng lợi từ chi phí sản xuất thấp hơn và sự quen thuộc với thị trường.
"Chúng tôi rất lạc quan, người dân nuôi cá rô phi Trung Quốc rất sẵn sàng trong việc chuyển đổi sang nuôi cá tra. Ngoài ra, cá rô phi và cá tra đều có thể được chế biến ở qui mô lớn, điều này giúp thúc đẩy sự phát triển của ngành."
Yêu cầu kinh nghiệm
Ông Chen kêu gọi các công ty Trung Quốc tăng sản lượng cá giống vì giá vẫn còn quá cao trong khi tỉ lệ sống thấp. Hơn nữa, nông dân thường xuyên thả giống không đúng thời điểm trong năm, chỉ 4 tháng trong năm có điều kiện thích hợp để nuôi cá tra ở Quảng Đông.
Vào tháng 12/2018, một đợt rét đậm ở miền Nam Trung Quốc đã khiến cá tra chết hàng loạt.
Một số nông dân sử dụng thức ăn cho cá rô phi khi nuôi cá tra. Theo ông Chen, điều này có thể dẫn đến các vấn đề về chất lượng thịt, thịt chuyển thành màu vàng khiến người tiêu dùng thấy không hài lòng.
"Khi nông dân sử dụng loại thức ăn đúng tiêu chuẩn, điều này giúp giảm tỉ lệ thịt vàng lên tới 95%".
Trong khi đó, nếu khối lượng cá tra được thu hoạch quá lớn, thị trường không thể tiêu thụ hết sản lượng này gây ảnh hưởng đến giá bán tại trang trại.
Ông Chen mong muốn các công ty sản xuất cá tra cố gắng đương đầu với khó khăn, cải thiện chất lượng cá giống, đảm bảo thời gian thả giống chính xác và cải thiện tỉ lệ sống. Sự suy giảm của ngành tôm thẻ chân trắng khổng lồ Trung Quốc như một lời cảnh báo đối với các công ty "không hành động thụ động".
Tình hình cá giống
Vào ngày 23/3, Seafood Giude báo cáo một công ty có trụ sở ở Hải Nam đã chuyển lô cá tra giống 1 triệu con đầu tiên của mình cho một công ty sản xuất thức ăn ở Bắc Hải, tỉnh Quảng Tây.
Theo báo cáo, cá giống có giá 0,2 nhân dân tệ/con.
Hiện có hàng chục doanh nghiệp lớn và nhỏ sản xuất cá tra giống ở tỉnh Hải Nam và Quảng Đông. "Năm nay chắc chắn sẽ không thiếu cá tra giống ở Trung Quốc", báo cáo nhận định.
Công ty Maoming Yulian Technology có trụ sở tại Quảng Đông dự kiến sẽ thả giống 200 triệu cá tra con trong năm 2019. Từ đó, ước tính sẽ sản xuất 50 triệu cá giống để bán ra ngoài thị trường.
Một công ty khác lo ngại các nhà chế biến của tỉnh Hải Nam sẽ không thể xử lí hết sự gia tăng lớn trong sản xuất cá tra. Tuy nhiên, nếu khả năng chế biến cá tra ở Hải Nam được mở rộng, người ta tin rằng nhiều nông dân tỉnh này sẽ nuôi cá tra trong năm nay.
 
Giá phân bón thế giới tăng
Giá phân bón trên thị trường thế giới trong tuần thứ 3 của tháng 4 tiếp tục tăng, xu hướng tăng đã diễn ra trong vài tuần đó, theo nguồn tin từ DTN.
Trong tám loại phân bón thì có đến một nửa cao hơn so với tháng trước, tuy nhiên so với những tuần trước đó thì mức tăng không nhiều. Cụ thể, Kali giá trung bình 388 USD/tấn (cao hơn 0,5%), Ure 404 USD/tấn (cao hơn 0,74%); phân hỗn hợp 10-34-0 giá trung bình 481 USD/tấn (cao hơn 2,34%) và UAN28 giá 270 USD/tấn (không thay đổi) so với tháng trước.
Bốn loại phân bón còn lại thấp hơn so với tháng trước, nhưng theo DTN thì mức sụt giảm này không đáng kể, cụ thể DAP giá bình quân 504 USD/tấn (giảm 0,9%); MAP giá 531 USD/tấn (giảm 0,3%), anhydrous giá 594 USD/tấn (giảm 0,5%) và UAN32 giá 317 USD/tấn (giảm 0,31%).
So với thời điểm cùng kỳ năm trước, thì giá 8 chủng loại phân bón đều có giá cao hơn. Cụ thể MAP tăng 4%; DAP tăng 6%; Ure và Kali đều tăng 10%; phân hỗn hợp 10-34-0 và UAN28 đều tăng hơn 12%; UAN32 tăng 15% và anhydrous tăng cao hơn cả 17%.
Trên thị trường nguyên liệu, trong tuần tính đến ngày 26/4 giá khí tự nhiên của Mỹ, biến động. Nếu như đầu tuần 22/4 giá khí tăng kết thúc 6 ngày sụt giảm liên tiếp, do thời tiết ấm hơn bình thường thúc đẩy nhu cầu làm mát. Giá khí giao tháng 5/2019 trên sàn giao dịch bán buôn New York tăng 3,4 UScent hay 1,4% đóng cửa tại 2,524 USDmmBtu. Thì sang phiên giao dịch ngày 23/4, giá khí tự nhiên của Mỹ giảm xuống gần mức thấp nhất trong 3 năm do sản lượng tăng và nhu cầu giảm 6,9 US cent hay 2,7% đóng cửa tại 2,455 USD/mmBtu, mức thấp nhất kể từ đầu tháng 6/2016.
Tuy nhiên trong hai phiên cuối tuần, giá khí tự nhiên của Mỹ tăng trở lại trong phiên giao dịch ngày 24/4 sau khi chạm mức thấp nhất trong gần 3 năm trong phiên liền trước, do các dự báo thời tiết nóng hơn dự kiến thúc đẩy nhu cầu làm mát.
Chốt phiên cuối tuần 26/4 giá khí tự nhiên của Mỹ đã hạn chế đà tăng, sau khi báo cáo dự trữ phù hợp với dự báo được phát hành, nhưng thời tiết ấm hơn bình thường, nhu cầu sưởi thấp và sản lượng gần kỷ lục.
Giá khí tự nhiên giao kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn bán buôn New York tăng 5,2 US cent hay 2,1% đóng cửa tại 2,514 USD/mmBtu.
Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ EIA cho biết dự trữ khí tăng 92 tỷ feet khối trong tuần kết thúc vào ngày 19/4/2019. Số liệu đó phù hợp với ước tính tăng 91 tỷ feet khối của các nhà phân tích trong một thăm dò của Reuters. Sự gia tăng này đưa dự trữ khí ở mức 1.339 nghìn tỷ feet khối, cao hơn 4% so với cùng tuần một năm trước và thấp hơn 22% so với mức trung bình 5 năm.
Trong nước, giá phân Ure xu hướng tăng kể từ đầu tháng 4/2019, đặc biệt đối với Ure hạt trong do nguồn cung khan hiếm.
Theo nguồn tin từ thongtinphanbon.com, tại ĐBSCL vào cuối tháng 3/2019 giá Ure tăng nhẹ do một số tỉnh đang xuống giống Hè Thu (khu vực miền Tây như: Sóc Trăng, An Giang, Cà Mau… đang thu hoạch lúa Đông Xuân trong khi một số khu vực khác đang có nhu cầu cho phân bón như tại Long An, Hậu Giang, Cần Thơ…. do đang xuống giống Hè Thu).
Tại chợ Trần Xuân Soạn, giá Ure Cà Mau ngày 25/4 có giá 7.150-7.250 đồng/kg (trước đó ngày 18/4 giá 7.100 đồng/kg).
Tại các vùng Tây Nam Bộ như Sóc Trăng giá Ure Phú Mỹ bán ra tại kho cấp 1 giá 8.100 – 8.200 đ/kg (ngày 25/4); Ure Cà Mau 7.500 – 7.600 đồng/kg.
Tại khu vực Đông Nam Bộ, nhu cầu phân bón chậm do nắng nóng, người dân đợi mưa để bón cho cây công nghiệp. Chào bán giá phân bón tạm thời không đổi. Ure Cà Mau chào bán tại kho trung chuyển miền Đông Tây Nguyên ở mức 7.200 – 7.300 đồng/kg và 7.350 đồng/kg.
Về thông tin hàng tàu phân bón cập nhật đến ngày 25/4/2019 thì dự kiến ngày 1-27/4/20019 có 61.549 tấn phân bón các loại cập cảng Sài Gòn. Trong đó có 9.602 tấn Ure Indonesia (Vinacam, Gia Vũ) sẽ cập cảng Sài Gòn ngày 25-27/4/2019.
Theo số liệu từ TCHQ, trong tuần từ 5/4 đến 18/4/2019 Việt Nam nhập khẩu phân bón chủ yếu từ các thị trường Hà Lan, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc, trong đó Hà Lan nhập nhiều nhất với phân hỗn hợp NPK giá bình quân 2 USD/kg; Hàn Quốc phân Kali giá bình quân 1 USD/kg; nhập từ Hàn Quốc phân Ammonia giá bình quân131 USD/tấn và nhập từ Trung Quốc phân ammonia với giá bình quân 128 USD/tấn. Ngoài ba thị trường có lượng nhập nhiều kể trên, Việt Nam còn nhập từ các thị trường nữa như: Bỉ, Ấn Độ, Mỹ, Nauy….

                                                                  PTN - Tổng hợp


Số lượt người xem: 111 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày