SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
5
7
4
0
1
9
Tin quốc tế Thứ Sáu, 26/04/2019, 09:05

Tin thế giới từ 22 - 26.4.2019

 

Các công ty khai thác mực ở Mỹ, sau đó đưa sang Trung Quốc để làm sạch và chế biến hiện không phải chịu mức thuế NK 10% vào Mỹ khi họ XK mực trở lại thị trường Mỹ để tiêu thụ nội địa.
Những vấn đề đã phát sinh do các quy tắc xuất xứ của  Hoa Kỳ và sự diễn giải về yếu tố tạo ra “sự chuyển đổi đáng kể ".
Loại mực ống đang tranh cãi về việc được miễn thuế 10% hay không là mực ống tua dài (Loligo pealeii) và mực ống Boston (Illex illecebrosus) được khai thác tại vùng biển phía tây bắc Đại Tây Dương của Mỹ. Các công ty khai thác của Mỹ thường đưa mực ống nguyên con đông lạnh block sang Trung Quốc. Tại đây, mực được chế biến trong các nhà máy để sản xuất mực cắt khoanh hoặc mực ống tube. Các sản phẩm này sau đó được xuất trở lại Mỹ để đóng gói bán lẻ.Theo đó, Hải quan Mỹ cho rằng, các sản phẩm cuối cùng này là sản phẩm của Mỹ, không phải Trung Quốc. Sản phẩm này được XK và NK theo cùng mã HS của hải quan.
Lý do về việc này có thể được giải thích trong Điều 19 của Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ. Theo đó, nước xuất xứ là "nước sản xuất, chế biến hoặc gia tăng giá trị sản phẩm có nguồn gốc nước ngoài  đưa vào Mỹ". Để một quốc gia khác trở thành “nước xuất xứ”, thì việc chế biến thêm hoặc bổ sung nguyên liệu tại nước đó phải tạo ra một sự chuyển đổi đáng kể.
Theo quy định của hải quan Hoa Kỳ, mực được chế biến thành mực cắt khoanh hoặc mực ống tube không được coi là tạo ra biến đổi đáng kể. Kết quả là không áp đặt thuế quan đối với mực Boston và mực ống tua dài nội địa được làm sạch và chế biến tại Trung Quốc.
Ngành thủy sản với chuỗi cung ứng toàn cầu, đã đặt ra những câu hỏi về cách giải thích Điều 19.
Trong một văn bản gửi Cơ quan Tiếp thị Nông nghiệp (AMS) của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ năm 2004, một công ty tôm ở Ấn Độ đã tìm cách làm rõ liệu tôm nuôi và thu hoạch ở Bangladesh nhưng được chế biến tại các cơ sở của nó ở Ấn Độ có được tính là tôm Ấn Độ hay không. Trong văn bản công ty giải thích rõ tôm được chế biến ở Ấn Độ gồm các khâu bỏ đầu, lột vỏ, rút chỉ, hấp chín, làm lạnh…
Ông Myles Harmon, Giám đốc bộ phận phán quyết thương mại tại AMS vào thời điểm đó đã trả lời rằng sản phẩm tôm được chế biến ở Ấn Độ như mô tả, đã không bị biến đổi đáng kể. Do đó, nước xuất xứ vẫn là Bangladesh.
Tuy nhiên, trong một phán quyết khác từ năm 1988, một tòa án ở Hàn Quốc đã xác định rằng việc rã đông, lột da, rút ​​xương, cắt tỉa, đông lạnh và đóng gói cá đã bỏ đầu và rút ruột (H&G) đã tạo thành một sự biến đổi đáng kể. Do đó, tòa án đã kết luận rằng việc chế biến cá thành philê "cấp đông nhanh" đã biến đổi đáng kể cá (H&G) "vì đã có sự thay đổi về tên và tính chất".
 
Triển vọng năm 2019 đối với ngư trường khai thác tôm nước lạnh của Canada khá ảm đạm. Báo cáo về sinh khối tôm tại đây khá thấp.
Năm 2018, Cục Nghề cá và Đại dương Canada (DFO) đã tăng hạn ngạch tôm phương Bắc mặc dù giảm 16% hạn ngạch vùng 6 khiến tổng hạn ngạch được phép khai thác giảm xuống còn 8.730 tấn. Điều này đã làm ảnh hưởng tới ngư dân và các nhà máy chế biến.
Việc cắt giảm hạn ngạch năm nay dự kiến áp dụng với vùng khai thác 5 và 6, chủ yếu với các tàu khai thác xa bờ với sản lượng khai thác chủ yếu phục vụ chế biến tôm hấp nguyên con. DFO sẽ sớm đưa ra con số cắt giảm cụ thể.
 
Thị trường lúa gạo Châu Á: Giá gạo Ấn Độ giảm, Thái Lan và Việt Nam vững
Giá gạo tại các trung tâm xuất khẩu của Châu Á có xu hướng giảm trong tuần này, trong đó gạo Ấn Độ giảm bởi nhu cầu yếu, còn Bangladesh dự định xem xét lại lệnh cấm xuất khẩu gạo.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm giá khoảng 377-380 USD/tấn, giảm so với 387-390 USD/tấn cách đây một tuần. Nhu cầu từ khách hàng Châu Phi lúc này yếu bởi những khách hàng này còn khá nhiều gạo dự trữ.
Việc Trung Quốc tích cực bán gạo dự trữ từ những vụ trước cũng góp phần khiến giá gạo giảm.
Xuất khẩu gạo Ấn Độ giai đoạn tháng 4/2018 -2/2019 giảm 9,4% so với cùng kỳ năm trước, xuống 10,57 triệu tấn, chủ yếu do Bangladesh giảm mua vì sản lượng trong nước được mùa.
Ngày 18/4/22019, Bộ trưởng Thương mại Bangladesh cho biết, lệnh cấm xuất khẩu gạo (áp dụng đã từ lâu) sẽ được mang ra thảo luận lại sau khi nhiều doanh nghiệp đề xuất xóa bỏ. “Nếu dư thừa, chúng tôi có thể cho phép xuất khẩu”, Bộ trưởng Tipu Munshi nới với các phóng viên trong một cuộc họp báo sau cuộc họp với Hiệp hội các nhà kinh doanh gạo.
Bangladesh đã cấm xuất khẩu một số loại gạo thường từ tháng 5/2018, sau khi giá tạo trong nước tăng mạnh. Đến cuối 2018 thì họ cấm xuất khẩu tất cả các loại gạo.
Vào cuối năm 2017, nước này đã buộc phải tăng cường nhập khẩu gạo để đẩy mạnh lượng dự trữ sau khi lũ lụt gây mất mùa lớn, đẩy giá gạo trong nước tăng lên mức cao kỷ lục.
Tại Thái Lan, nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, gạo 5% tấm giá giảm nhẹ xuống 393-411 USD/tấn, FOB Bangkok, từ mức 405-410 USD/tấn cách đây một tuần.
“Khách hàng nước ngoài đã chuyển hướng sang mua gạo Ấn Độ và Việt Nam vì giá rẻ hơn so với gạo của chúng tôi”, Reuters dẫn lời một thương gia Thái Lan cho biết.
Tuy nhiên, lo ngại về nguồn cung trong nước đã giữ giá gạo vững trong thời gian gần đây.
Vụ thu hoạch ở Thái Lan đã hoàn tất từ tháng trước nên thị trường lúc này không có thêm nguồn cung mới, trừ lượng gạo mà các nhà máy chưa bán ra, có nghĩa là giá sẽ tiếp tục vững mặc dù thiếu vắng nhu cầu”, Reuters dẫn lời một thương gia khác tại Thái Lan cho biết.
Giá gạo 5% tấm của Việt Nam vững tuần thứ 5 liên tiếp, ở mức 360 USD/tấn, do nguồn cung bắt đầu sụt giảm. Các thương gia đang hy vọng sẽ có nhu cầu mới từ phía Trung Quốc.
Tuy nhiên, đây vẫn là mức giá cao nhất kể từ giữa tháng 1/2019.
Tại Philippines, dự trữ gạo tính đến ngày 1/3 đã tăng 30,87% so với một năm trước đó, lên 2,22 triệu tấn, đủ dùng trong khoảng 69 ngày. Theo Cơ quan Thống kê Philippines (PSA), dự trữ gạo toàn quốc đạt 2,22 triệu tấn, tăng so với 1,69 triệu tấn cách đó một năm và cũng 3,75% so với 2,14 triệu lấn dự trữ ở thời điểm tháng 2/2019.
Mặc dù có tỉ trọng lớn nhất trong tổng lượng dự trữ, song dự trữ của các hộ gia đình vẫn giảm 6.08% so với năm ngoái xuống 1,03 triệu tấn. Tuy nhiên, con số này vẫn tăng nhẹ 0,12% so với tháng trước. Dự trữ tại các kho thương mại và Cơ quan Lương thực Quốc gia (NFA) tăng lần lượt 25,75% lên 695.840 tấn và 1.030,17% lên 491.940 tấn, tương ứng. So với tháng 2, dự trữ của các kho thương mại giảm 14,22% trong khi dự trữ của NFA vẫn tăng 65,29%.
Tại Nigeria, thông tin từ Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nigeria Audu Ogbeh cho biết, quốc gia này đang sản xuất 90% lượng gạo mà họ tiêu thụ tại địa phương. Theo ông, Nigeria không chỉ tự cung được gạo mà còn hướng tới xuất khẩu sang các nước Châu Phi khác, Châu Âu và Mỹ, kể cả Viễn Đông, trong đó có Trung Quốc.
 
Giá lúa mì Nga giảm do nhu cầu yếu và triển vọng cây trồng cải thiện
Giá lúa mì Nga trong tuần kết thúc ngày 19/4/2019 giảm, do triển vọng cây trồng năm 2019 cải thiện, trong khi nhu cầu yếu.
Giá lúa mì Nga khu vực Biển Đen loại 12,5% protein kỳ hạn tháng 5/2019 đạt 221 USD/tấn FOB, giảm 4 USD so với tuần trước đó, công ty tư vấn nông nghiệp Nga IKAR cho biết.
SovEcon, công ty tư vấn có trụ sở tại Moscow cho biết, giá lúa mì giảm 3 USD xuống 224 USD/tấn. Công ty này nâng dự báo lúa mì Nga năm 2019 thêm 3,4 triệu tấn lên 83,4 t riệu tấn.
Nga đã xuất khẩu 38,2 triệu tấn ngũ cốc niên vụ bắt đầu ngày 1/7/2018 đến 18/4/2019, giảm 9% so với cùng kỳ năm ngoái, SovEcon cho biết. Con số này bao gồm 32 triệu tấn lúa mì, giảm 3% so với cùng kỳ năm ngoái.
Giá lúa mì loại 3 giảm 50 RUB xuống 12.150 RUB (190,5 USD)/tấn tuần kết thúc ngày 19/4/2019 tại khu vực châu Âu của Nga, giá xuất xưởng, SovEcon cho biết. Nguồn cung xuất xưởng không bao gồm chi phí giao hàng.
Tính đến ngày 19/4/2019, những người nông dân đã gieo trồng 10,7% diện tích trồng trọt, tương đương 3,2 triệu ha so với 1,9 triệu ha cùng kỳ năm ngoái.
Bộ Nông nghiệp Nga tiếp tục bán ngũ cốc từ kho dự trữ vào tuần trước, xuất khẩu 7.500 tấn lúa mì. Nga đã bán 1,76 triệu tấn ngũ cốc bao gồm 1,48 triệu tấn lúa mì kể từ đầu năm marketing này.
Giá hạt hướng dương giảm 225 RUB xuống 18.650 RUB/tấn, trong khi giá dầu hạt hướng dương thị trường nội địa giảm 325 RUB xuống 42.000 RUB/tấn, SovEcon cho biết. Giá xuất khẩu dầu hướng dương tăng 10 USD lên 660 USD/tấn. IKAR cho biết, chỉ số giá đường trắng khu vực phía nam Nga giảm 0,5 USD xuống 504,1 USD/tấn so với tuần trước đó.
1 USD = 63,7688 RUB

                                                                         PTN - Tổng hợp


Số lượt người xem: 106 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày