SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
5
7
4
0
4
7
Thị trường Thứ Sáu, 05/07/2019, 12:55

Thị trường hàng hóa đáng quan tâm trong ngày từ 01 - 05.7.2019

 

Thị trường hàng hóa trong nước tuần qua
Giá lợn hơi tuần đến 30/6/2019 nhìn chung vẫn giảm
Tuần qua, giá lợn hơi biến động tại một vài địa phương, chủ yếu tại hai miền Trung - Nam và với xu hướng giảm là chủ đạo.
Tại miền Bắc nhìn chung ổn định
Tuần qua, giá lợn hơi tại khu vực phía bắc hầu như không có nhiều biến động, giao dịch trong khoảng 34.000 - 39.000 đ/kg tuỳ khu vực và loại lợn. Hiện tại, Hưng Yên, Nam Định, Thái Nguyên, Lào Cai khoảng 38.000 - 39.000 đ/kg; các địa phương còn lại như Hải Dương, Yên Bái, Hà Nội, Hà Nam, Tuyên Quang, Phú Thọ giá lợn hơi 34.000 - 37.000 đồng. Giá lợn trung bình toàn khu vực đang dao động quanh mức 37.000 đ/kg. Giá lợn giống tại đây bình quân đạt khoảng 760.000 đ/kg loại 7 - 8 kg/con.
Tại miền Trung, Tây Nguyên giảm
Giá lợn hơi tại khu vực giảm tương đối mạnh tại một vài địa phương, chủ yếu thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, vào đầu tuần rồi dần ổn định trở lại vào cuối tuần. Giá lợn hơi tại các tỉnh Bắc Trung Bộ đang dao động trong khoảng 31.000 - 38.000 đ/kg, phổ biến 31.000 - 34.000 đồng, xuôi về miền Nam, giá lợn hơi cũng phổ biến ở mức 30.000 - 34.000 đồng, một số tỉnh như Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận có giá cao hơn, đạt 40.000 - 42.000 đ/kg.
Tại miền Nam duy trì xu hướng giảm nhẹ
Giá lợn tại miền Nam vẫn giảm nhẹ tại một vài địa phương trong suốt tuần qua, đưa giá trung bình toàn khu vực xuống còn khoảng 34.000 đ/kg, trong đó, giá lợn hơi tại Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Củ Chi, TP HCM, Tiền Giang, Bến Tre, Vũng Tàu trong mức 30.000 - 35.000 đ/kgc còn tại An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng giá cao hơn ở mức 36.000 - 38.000 đồng.
Dịch tả lợn châu Phi gây thiệt hại rất lớn
Ngày 28.6 tại Hà Nội, Bộ NN-PTNT tổ chức hội nghị sơ kết công tác ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019. Ông Phạm Văn Đông, Cục trưởng Cục Thú y (Bộ NN-PTNT), cho biết dịch tả lợn châu Phi đã xuất hiện ở 60 tỉnh, thành phố với khoảng 3 triệu con lợn đã bị tiêu hủy.
Theo ông Nguyễn Văn Việt, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ NN-PTNT, thiệt hại lớn do dịch tả lợn châu Phi đã làm suy giảm mức tăng trưởng giá trị sản xuất của toàn ngành nông nghiệp trong 6 tháng, khi chỉ đạt 2,71%, nếu không có dịch bệnh này, mức tăng trưởng có thể đạt từ 3 - 4%. Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết dịch tả lợn châu Phi đã gây thiệt hại ở mức chưa từng thấy trong lịch sử ngành chăn nuôi. Số lượng lợn đã tiêu hủy đã chiếm 10% tổng đàn lợn cả nước, đây cũng là dịch bệnh buộc Bộ NN-PTNT phải nhìn lại chiến lược chăn nuôi trong 10 năm tới để có tính toán, tái cơ cấu phù hợp không để xảy ra tình trạng thiếu thực phẩm.
Giá lợn hơi Trung Quốc quí IV dự báo vượt mức kỉ lục vì dịch ASF
Theo Vụ Thị trường châu Á - châu Phi, đối với mặt hàng thịt lợn, giá trung bình trên thị trường Trung Quốc là 24,71 CNY/kg (tương đương 85.000 đ/kg), tăng 26,6% so với cùng kì năm trước. Giá bán buôn thịt lợn tháng 6/2019 là 21,55 CNY/kg (tương đương 74.000 đ/kg), tăng 12% so với cùng kì năm 2018.
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, giá lợn bước vào chu kì tăng trước thời hạn. Giá lợn hơi trong quí IV năm 2019 có thể sẽ vượt mức cao trong lịch sử thiết lập năm 2016. Sang năm 2020, do nguồn cung vẫn hạn hẹp, giá thịt lợn khả năng sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao.
Trong tháng 5, kim ngạch nhập khẩu thịt nói chung và thịt lợn nói riêng của Trung Quốc tăng mạnh. Theo số liệu do Tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố, Trung Quốc nhập khẩu 556.300 tấn thịt và phụ phẩm, tăng khoảng 45% so với cùng kì năm 2018; trong đó, thịt lợn đạt mức tăng trưởng nhập khẩu cao nhất (63%) với số lượng 187.500 tấn, nguyên nhân do dịch tả lợn châu Phi, sản lượng lợn của Trung Quốc giảm nhanh trong những tháng vừa qua.
Trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, Trung Quốc áp thuế quan nhập khẩu 62% lên thịt lợn Mỹ; do vậy, để đáp ứng nhu cầu trong nước, Trung Quốc tăng cường thu mua thịt lợn từ châu Âu và Brazil.
Tình hình xuất khẩu thủy sản gặp những khó khăn, dẫn đến tồn đọng, giá một số mặt hàng thủy sản giảm mạnh.
Thời gian gần đây do Trung Quốc thắt chặt xuất khẩu một số mặt hàng thủy sản qua đường tiểu ngạch, dẫn đến giá cả mặt hàng trên bị giảm do tiêu thụ không được.
Cụ thể, giá tôm sú nguyên liệu loại 20 con/kg từ 250.000 - 260.000 đồng/kg (giảm 70.000 đồng/kg so cùng kỳ); loại 30 con/kg: 180.000 - 190.000 đồng/kg (giảm 70.000 đồng/kg so cùng kỳ); Tôm sú loại 40 con/kg: 150.000 - 160.000 đồng/kg (giảm 20.000đồng/kg so cùng).
Riêng tôm thẻ chân trắng loại 100 con/kg từ 92.000 - 95.000 đồng/kg (tăng 8.000 - 10.000 đồng/kg so cùng kỳ).
Hiện tại, toàn tỉnh Cà Mau có 302.000 ha nuôi trồng thủy sản, trong đó diện tích nuôi tôm 280.000 ha. Diện tích ao nuôi tôm công nghiệp đạt 9.473,1 ha, bằng 88,6% kế hoạch, giảm 1,5% so cùng kỳ.
Trong đó, diện tích nuôi tôm siêu thâm canh trên 2.251 ha, đạt 97,9% so kế hoạch, tăng 29,6% so cùng kỳ); diện tích đang nuôi đạt 51,6%. Diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến đạt gần 135.100 ha, tăng 19,3% so cùng kỳ, bằng 99% kế hoạch; trong đó, diện tích đang thả nuôi đạt 96%.
Tôm nguyên liệu giảm, người nuôi tôm còn phải đối mặt với dịch bệnh trong thời gian qua, hiện diện tích nuôi tôm công nghiệp cũng bị ảnh hưởng năng suất do bệnh, theo số liệu thống kê hiện có 85,6 ha diện tích nuôi tôm bị nhiễm bệnh. Trong đó, tôm quảng canh, quảng canh cải tiến có 4.879,8 ha bị nhiễm bệnh, mức độ thiệt hại khoảng 30 - 50% diện tích tôm nuôi. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do môi trường tác động.
Do giá tôm nguyên liệu giảm mạnh, nên nhiều doanh nghiệp cũng như người nuôi tôm lo sợ giá tôm nguyên liệu sẽ giảm, nên e ngại mở rộng diện tích thả nuôi vì sợ thua lỗ.
Theo Sở Nông nghiệp tỉnh Cà Mau cho biết, tổng sản lượng thủy sản ước đến hết tháng 6 năm 2019 đạt 286.500 tấn, tăng 4,1% so cùng kỳ, đạt 51,2% kế hoạch. Trong đó sản lượng tôm ước đạt 93.350 tấn; tăng 6,7% so cùng kỳ, đạt 44,8% kế hoạch.
Hiện nay, cá tra giống 20 ngày tuổi tại thị trường tỉnh Đồng Tháp có mức giá từ 16.000 - 20.000 đồng/kg, trong khi giá thành 23.000 đồng/kg, khiến người nuôi cá tra giống thua lỗ nặng.
Nguyên nhân là do cá tăng giá thời điểm trước đây khiến nhiều hộ tự ý đào ao nuôi ngoài vùng quy hoạch, tăng diện tích nuôi nên đã ảnh hưởng đến cung vượt cầu, cộng với cá tra thương phẩm giảm ảnh hưởng đến cá tra giống.
Giá cá tra thịt sụt giảm, giá cá tra giống giảm theo khiến nhiều hộ nuôi lỗ nặng. Anh Nguyễn Anh Duy tại xã Tân Thành A, huyện Tân Hồng cho biết, gia đình có gần 1 ha ao sản xuất cá tra giống; từ đầu năm đến nay, anh lỗ gần 100 triệu đồng khiến cả nhà mất ăn, mất ngủ vì lao vào con cá tra. Hiện, cá giống anh bán ra chỉ 16.000 đồng/kg, trong khi giá thành sản xuất hơn 23.000 đồng/kg.
Hiện với giá cá tra giống giá 16.000 đồng/kg, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2018 từ 2.000 - 4.000 đồng/kg. Thời gian ương nuôi cá bột đến khi xuất bán chỉ gần 2 tháng. 
Tăng giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến từ 15h ngày 02/7
Cụ thể, từ 15h ngày 02/7, Xăng RON95-III tăng 383 đồng/lít; Xăng E5RON92 tăng 420 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S tăng 292 đồng/lít; Dầu hỏa tăng 326 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S tăng 105 đồng/kg.
Bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong 15 ngày trước kỳ điều hành giá xăng dầu ngày 02/7/2019 có xu hướng tăng khá cao và lên mức: 67,690 USD/thùng xăng RON92 dùng để pha chế xăng E5RON92 (tăng 3,407 USD/thùng, tương đương +5,3% so với kỳ trước); 69,315 USD/thùng xăng RON95 (tăng 3,298 USD/thùng, tương đương +5,0% so với kỳ trước); 76,110 USD/thùng dầu diesel 0.05S (tăng 3,397 USD/thùng, tương đương +4,67% so với kỳ trước); 76,505 USD/thùng dầu hỏa (tăng 3,631 USD/thùng, tương đương +4,98% so với kỳ trước); 394,498 USD/tấn dầu mazut 180CST 3.5S (tăng 13,405 USD/tấn, tương đương +3,52% so với kỳ trước).
Để bảo đảm giá xăng dầu trong nước có sự điều chỉnh phù hợp với xu hướng giá thị trường thế giới, góp phần bình ổn giá cả các mặt hàng tiêu dùng, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; căn cứ tình hình địa chính trị trên thế giới phức tạp, khó lường và tình hình thực tế của Quỹ bình ổn giá, trong kỳ điều hành này Liên Bộ Công Thương – Tài chính thực hiện không chi Quỹ Bình ổn giá, giảm mức trích lập Quỹ Bình ổn giá đối với các loại xăng dầu, đồng thời tăng giá bán lẻ các mặt hàng xăng dầu ở mức hợp lý để hạn chế mức tăng giá, giữ mức chênh lệch giá phù hợp giữa xăng E5RON92 và xăng khoáng Ron95 để khuyến khích tiêu dùng xăng sinh học theo lộ trình. (Chi tiết mức chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu từ đầu năm 2019 tới kỳ điều hành này tại bảng đính kèm).
Thực hiện Nghị quyết số 579/2018/UBTVQH14 ngày 26 tháng 9 năm 2018 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Biểu thuế bảo vệ môi trường, quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 39/2014/TTLT-BCT-BTC, Thông tư liên tịch số 90/2016/TTLT-BTC-BCT; căn cứ Công văn số 4098/VPCP-KTTH ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Văn phòng Chính phủ về điều hành giá xăng dầu, Công văn số 1134/VPCP-KTTH ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Văn phòng Chính phủ về công bố giá cơ sở xăng dầu; căn cứ Công văn của Bộ Tài chính: số 1072/BTC-QLG ngày 18 tháng 11 năm 2016 về điều hành kinh doanh xăng dầu, số 3867/BTC-QLG ngày 02 tháng 4 năm 2019 về thuế nhập khẩu bình quân trong công thức tính giá cơ sở xăng dầu Quý I/2019, số 3910/BTC-QLG ngày 04 tháng 4 năm 2018 về công bố giá cơ sở xăng RON95, số 367/BTC-QLG ngày 06 tháng 4 năm 2018 về tính giá cơ sở xăng RON95, số 404/BTC-QLG ngày 17 tháng 4 năm 2018 về công bố giá cơ sở mặt hàng xăng RON95, số 755/BTC-QLG ngày 02 tháng 7 năm 2019 về điều hành giá xăng dầu.
Liên Bộ Công Thương - Tài chính quyết định:
Quỹ Bình ổn giá xăng dầu
- Trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu: Thực hiện giảm mức trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với xăng E5RON92 xuống mức 200 đồng/lít (kỳ trước trích 300 đồng/lít; trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng RON95 và các loại dầu xuống mức 700 đồng/lít (kỳ trước trích 700 đồng/lít).
- Không chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu.
Giá bán xăng dầu
Sau khi thực hiện việc trích lập, chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu tại Mục 1 nêu trên, điều chỉnh tăng giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường:
- Xăng RON95-III: tăng 383 đồng/lít;
- Xăng E5RON92: tăng 420 đồng/lít;
- Dầu diesel 0.05S: tăng 292 đồng/lít;
- Dầu hỏa: tăng 326 đồng/lít;
- Dầu mazut 180CST 3.5S: tăng 105 đồng/kg.
Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá:
- Xăng E5RON92: không cao hơn 19.653 đồng/lít;
- Xăng RON95-III: không cao hơn 20.517 đồng/lít;
- Dầu diesel 0.05S: không cao hơn 16.949 đồng/lít;
- Dầu hỏa: không cao hơn 15.937 đồng/lít;
- Dầu mazut 180CST 3.5S: không cao hơn 15.220 đồng/kg.
Thời gian thực hiện
- Trích lập, chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu: Áp dụng từ 16 giờ 30 ngày 02 tháng 7 năm 2019.
- Điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu: Do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu quy định nhưng không sớm hơn hơn 16 giờ 30 ngày 02 tháng 7 năm 2019 đối với các mặt hàng xăng dầu.
- Kể từ 16 giờ 30 ngày 02 tháng 7 năm 2019, là thời điểm Liên Bộ Công Thương - Tài chính công bố giá cơ sở kỳ công bố tại Công văn này cho đến trước ngày Liên Bộ Công Thương - Tài chính công bố giá cơ sở kỳ kế tiếp, việc điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu quyết định phù hợp với các quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 39/2014/TTLT-BCT-BTC, Thông tư liên tịch số 90/2016/TTLT-BTC-BCT.

                                                                              PTN - Tổng hợp


Số lượt người xem: 78 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày