SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3
0
8
6
6
0
9
Tin tức Thứ Sáu, 03/05/2019, 09:15

Xuất nhập khẩu từ 29.4 - 03.5.2019

 

Nhập khẩu phân bón giảm ba tháng liên tiếp
Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, nhập khẩu phân bón của Việt Nam trong tháng 3/2019 giảm 13,1% về lượng và 21,2% trị giá so với tháng 2/2019 – đây là tháng giảm thứ ba liên tiếp kể từ đầu năm 2019.
Tính chung 3 tháng đầu năm 2019 (quý 1/2019) đã nhập khẩu 983,8 nghìn tấn phân bón, trị giá 283,1 triệu USD, tăng 5,4% về lượng và 9,7% trị giá so với cùng kỳ năm trước. Giá nhập bình quân 287,76 USD/tấn,tăng 3,34%
Trung Quốc dẫn đầu thị trường cung cấp phân bón cho Việt Nam trong quý đầu năm nay, chiếm 32,69% tổng lượng phân bón nhập khẩu, đạt 321,6 nghìn tấn, trị giá 80,22 triệu USD, tăng 4,07% về lượng và 2,1% trị giá so với cùng kỳ. Giá nhập bình quân 249,4 USD/tấn, giảm 1,9%. Tính riêng tháng 3/2019, Việt Nam cũng đã nhập khẩu phân bón từ thị trường này 153,5 nghìn tấn, trị giá 35,96 triệu USD, tăng gấp 2,5 lần về lượng và gấp 2,4 lần về trị giá so với tháng 2/2019, nếu so với tháng 3/2018 thì tăng 5,21% về lượng nhưng giảm 3,78% về trị giá.
Thị trường nhập nhiều đứng thứ hai là Nga với 101,7 nghìn tấn, trị giá 34,2 triệu USD, tăng 79,1% về lượng và tăng 86,96% về trị giá so với cùng kỳ. Kế đến là các thị trường Belarus, Malaysia, Israel, Canada….
Nhìn chung, trong quý 1/2019 lượng phân bón nhập từ các thị trường so với cùng kỳ đều sụt giảm, số này chiếm tới 56%, trong đó giảm nhiều nhất là Hàn Quốc và Nauy đều giảm trên 56%, nhưng ngược lại Việt Nam lại tăng mạnh nhập khẩu từ các thị trường Thái Lan, Indonesia và Philippines, trong đó Thái Lan tăng mạnh nhất gấp 5,2 lần tuy chỉ đạt 19,4 nghìn tấn – đây cũng là thị trường có giá nhập bình quân giảm nhiều nhất trên 60%, tương ứng với 162,22 USD/tấn; Indonesia và Philippines đều tăng gấp 2,7 lần đạt tương ứng 45,9 nghìn tấn; 17,6 nghìn tấn.
Doanh nghiệp ngành sản xuất, kinh doanh phân bón cần biết
Về quản lý sản xuất, kinh doanh phân bón Bộ NN&PTNN đã đề xuất quy định mới về công nhận phân bón lưu hành. Theo đó, tại dự thảo Nghị định quy định về quản lý phân bón, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề xuất quy định về cấp, cấp lại, gia hạn, hủy bỏ quyết định công nhận phân bón lưu hành và quyết định công nhận tổ chức khảo nghiệm phân bón.
Dự thảo đề xuất quy định thay thế Nghị định 108/2017/NĐ-CP ngày 20/9/2017 của Chính phủ về quản lý phân bón nhằm tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia (Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP) và việc hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 (Nghị quyết số 35/NQ-CP), tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hội nhập sâu rộng trong phát triển kinh tế.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, về quy định cấp, cấp lại, gia hạn, hủy bỏ quyết định công nhận phân bón lưu hành và quyết định công nhận tổ chức khảo nghiệm phân bón, dự thảo đã đề xuất quy định cụ thể về hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam (được quy định tại Khoản 4 Điều 37 Luật Trồng trọt). Nội dung các quy định này nhìn chung kế thừa các quy định hiện hành trong Nghị định số 108/2017/NĐ-CP, trong đó có bãi bỏ một số giấy tờ phải nộp như: giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, bản chính Quyết định công nhận,… ; quy định cụ thể hơn tên một số loại văn bản, giấy tờ phải nộp và rút ngắn một số công đoạn thực hiện. Dự thảo Nghị định cũng đề xuất quy định cụ thể các mẫu đơn, tờ khai, mẫu quyết định để áp dụng trong quá trình thực hiện, các mẫu này cũng đã đảm bảo đơn giản hóa nhất cho người dân, doanh nghiệp dễ dàng thực hiện.
Bên cạnh đó, dự thảo Nghị định đề xuất quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục hủy bỏ Quyết định công nhận phân bón lưu hành (được quy định tại Khoản 3 Điều 38 Luật Trồng trọt). Đây là một quy định mới so với pháp luật hiện hành, tuy nhiên đây chỉ là một thủ tục mà quy trình thực hiện là của cơ quan quản lý nhà nước, chứ các cá nhân, doanh nghiệp không phải tham gia quá trình thực hiện (không phải khai, nộp hồ sơ), cụ thể như sau:
“1. Trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 38 Luật Trồng trọt, Cục Bảo vệ thực vật tổng hợp thông tin, thành lập Hội đồng khoa học để xem xét. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày có văn bản kết luận của Hội đồng khoa học về phân bón đã được công nhận lưu hành nhưng có nguy cơ cao gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, môi trường, Cục Bảo vệ thực vật ban hành quyết định hủy bỏ phân bón.
2. Trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Luật trồng trọt, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản kết luận về việc sử dụng tài liệu giả hoặc cung cấp thông tin trong tài liệu không đúng với phân bón đã được công nhận lưu hành, Cục Bảo vệ thực vật ban hành quyết định hủy bỏ phân bón.
3. Quyết định hủy bỏ phân bón phải quy định cụ thể các nội dung sau:
a) Tên phân bón (Mã số phân bón);
b) Tên tổ chức, cá nhân có phân bón;
c) Nguyên nhân phải hủy bỏ phân bón bao gồm cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học;
d) Hiệu lực của Quyết định
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày ký Quyết định phải được công bố chính thức trên các phương tiện thông tin đại chúng và trang thông tin điện tử của Cục Bảo vệ thực vật”.
Dự thảo Nghị định cũng đề xuất quy định cụ thể về hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp Quyết định công nhận tổ chức khảo nghiệm phân bón và các trường hợp sẽ bị thu hồi quyết định này (được quy định tại khoản 2 Điều 40 Luật Trồng trọt).
Các trường hợp sẽ bị thu hồi Quyết định công nhận tổ chức khảo nghiệm phân bón như: Giả mạo, cấp khống số liệu báo cáo kết quả khảo nghiệm phân bón; tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung quyết định đã được cấp. Tổ chức bị thu hồi Quyết định công nhận tổ chức khảo nghiệm phân bón chỉ được xem xét tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp Quyết định công nhận tổ chức khảo nghiệm phân bón sau 24 tháng kể từ ngày ban hành quyết định thu hồi.
 
Xuất khẩu tôm Việt Nam: Những lợi thế cạnh tranh
Bộ Thương mại Mỹ (DOC) vừa công bố sơ bộ mức thuế chống bán phá giá cho tôm Việt Nam trong giai đoạn xem xét hành chính lần thứ 13 (POR13) đối với 31 doanh nghiệp sẽ được hưởng mức thuế 0%.
Theo DOC, các sản phẩm tôm nước ấm đông lạnh của 2 bị đơn bắt buộc là Công ty Sao Ta (Fimex VN) và Công ty Hải sản Nha Trang (Nha Trang Seaproduct Company) đã không bị bán phá giá vào Mỹ trong giai đoạn từ ngày 1/2/2017 đến ngày 31/1/2018.
Vì vậy, mức thuế sơ bộ đối với 2 công ty bị đơn bắt buộc là 0%, 29 công ty khác của Việt Nam có nộp đơn xin xác định mức thuế suất khác biệt hoặc cam kết không có lô hàng nào xuất vào Mỹ trong khoảng thời gian nêu trên nên cũng được hưởng mức thuế 0%.
*Tìm cơ hội trong khó khăn
Đây được coi là động thái mới nhất của DOC liên quan đến các vụ kiện về hoạt động xuất - nhập khẩu vào nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Quyết định bất ngờ của DOC được cho là sẽ mở ra rất nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam, nhất là giữa bối cảnh lần lượt Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan và Brazil - 4 đối thủ cạnh tranh đáng gờm nhất của Việt Nam đều đang phải chịu các mức thuế suất khác nhau khi xuất khẩu tôm vào thị trường của nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Ấn Độ là thị trường xuất khẩu tôm lớn nhất của Mỹ, song vị trí này đang dần lung lay trước những đợt biến động lớn về thuế suất. Tháng 7/2018, trong đợt xem xét hành chính sau cùng cho lần thứ 12 (POR 12), DOC đã điều chỉnh tăng mức thuế chống bán phá giá trung bình đối với tôm nhập khẩu từ Ấn Độ từ 0,84% lên mức 1,35%, mặc dù con số này vẫn thấp hơn mức sơ bộ được đưa ra trước đó vào tháng 3/2018 là 2,34%.
Hai cái tên được lựa chọn trong đợt đánh giá khi đó là Devi Fisheries Limited (Devi) và Liberty Group - hai nhà sản xuất đóng góp đến gần 7% số lượng tôm chế biến được xuất khẩu từ Ấn Độ trong năm 2017. Trước đó, trong tháng 5/2018, New Delhi đã chứng kiến xuất khẩu tôm sang Mỹ sụt giảm lần đầu tiên kể từ tháng 6/2016, với mức giảm 4% so với cùng kỳ năm trước đó.
Ngoài Ấn Độ, Trung Quốc cũng không là ngoại lệ bởi vì giữa bối cảnh cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung diễn biến ngày một phức tạp. Tôm là một trong số những cái tên nằm trong danh sách sản phẩm dài 205 trang mà chính quyền Tổng thống Donald Trump đề xuất áp thuế để "trả đũa" nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Tuy nhiên, trước khi Mỹ đưa ra đề xuất áp thuế, xuất khẩu tôm của Trung Quốc sang Mỹ đã sụt giảm mạnh ở mức 21% trong tháng 6/2018 so với một năm trước đó.
Đối với Thái Lan, tình hình có vẻ tệ hơn khi “xứ Chùa vàng” là một trong 13 quốc gia chứng kiến hoạt động xuất khẩu tôm sang Mỹ sụt giảm và là quốc gia chứng kiến sự sụt giảm mạnh nhất, ở mức 42% trong tháng 6/2018 so với một năm trước đó.
Nếu tính trong nửa đầu năm 2018, xuất khẩu tôm từ Thái Lan đã giảm 27%, nguyên nhân chủ yếu là do ngành chế biến tôm Thái Lan gặp nhiều vấn đề có mức độ nghiêm trọng ngang với hồi năm 2012 khi căn bệnh mang tên hội chứng chết sớm (EMS) – theo thuật ngữ gọi là hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) – đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho nông dân nuôi tôm ở phía Đông Vịnh Thái Lan.
* Cú hích cho doanh nghiệp Việt
Mặc dù mức thuế 0% được cho là cú hích cho doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam song ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho rằng công bố này chỉ mới tạo ra tác động tích cực về mặt tinh thần cho các doanh nghiệp chứ chưa tạo ra giá trị trực tiếp đến việc xuất khẩu tôm vào Mỹ vì tất cả còn phụ thuộc vào phán quyết cuối cùng.
Theo ông Trương Đình Hòe, mục tiêu xuất khẩu tôm của Việt Nam vào Mỹ trong năm 2019 là 600 triệu USD, nhưng tính đến ngày 15/3, giá trị xuất khẩu tôm Việt Nam vào thị trường Mỹ mới đạt 80 triệu USD, giảm 16,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, tôm Việt Nam còn gặp khó khăn ở thị trường Mỹ do phải chịu cạnh tranh trực tiếp về giá với tôm Ấn Độ.
Nếu mức thuế 0% được áp dụng trong phán quyết cuối cùng được đưa ra vào tháng Chín năm nay thì đó sẽ là cú hích thật sự cho hoạt động xuất khẩu tôm vào Mỹ trong quý IV/2019 và những năm tiếp theo.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2018 trước bối cảnh nguồn cung thế giới tăng cao do được mùa, giá tôm sụt giảm từ 10 - 30% nhưng ngành tôm Việt Nam đã kịp thời có giải pháp ứng phó, chia sẻ khó khăn, ổn định sản xuất, giữ vững nhịp độ tăng trưởng. Qua đó, sản lượng tôm nước lợ đạt trên 762.000 tấn, tăng 6,3% so với năm 2017, đảm bảo nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu.
Năm 2019, ngành tôm được dự báo sẽ đối mặt với những thách thức mới như: tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự báo sụt giảm, dẫn đến lượng tiêu thụ tôm có thể giảm trong khi lượng tôm tồn kho vẫn còn. Biến đổi khí hậu và thời tiết đang có những diễn biến khó lường như hiện tượng El nino, hạn hán, xâm nhập mặn... có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất tôm.
Ngoài ra, một số chuyên gia kinh tế cũng cho rằng việc xuất khẩu tôm của Trung Quốc sang Mỹ gặp trở ngại cũng sẽ ít nhiều gây ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu tôm chưa qua chế biến của Việt Nam sang nền kinh tế lớn thứ hai thế giới - thị trường chiếm đến 94% tổng số lô hàng tôm của Việt Nam.
Mặc dù vậy, bên cạnh những thách thức, ngành tôm vẫn có cơ hội với nền tảng về tiềm năng, lợi thế tự nhiên, với đội ngũ doanh nghiệp có hơn 20 năm kinh nghiệm từ sản xuất đến chế biến, xuất khẩu.
Cùng với đó, với sự quyết tâm vào cuộc đồng bộ của toàn hệ thống từ Trung ương đến địa phương, những quy định mới, tiến bộ, phù hợp với thực tế của Luật Thủy sản 2017 sẽ tạo đà cho sản xuất phát triển. Ngoài ra, các Hiệp định thương mại mà Việt Nam đã ký kết có hiệu lực sẽ mở rộng cơ hội về thị trường cho sản phẩm tôm.

                                                                 PTN - Tổng hợp


Số lượt người xem: 214 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày